Về cha già Quynh

Tảm mạn lễ Thánh Lau-ren-sô... nhớ về cha

Ngày đăng:10-08-2017 |5:12 AM | 555 Lượt xem

Theo lẽ thường nơi mỗi gia đình, khi một người con cất tiếng khóc oe oe chào đời là cả một niềm vui lớn lao cho mọi thành viên. Trong gia đình công giáo niềm vui ấy được nhân lên gấp bội khi em bé sơ sinh ấy được sinh ra làm con cái Thiên Chúa qua bí tích thanh tẩy. Ngày lãnh nhận bí tích Thánh tẩy  là ngày em được mang thêm một cái tên (ở Việt Nam), tên của một vị thánh nào đó theo truyền thống gia đình, hay do gia đình chọn lựa cho em.

Ngày em bé Phạm Hân Quynh được đưa đến nhà thờ để nhận phép Thanh tẩy, bố mẹ em đã chọn cho em tên Lau-ren-sô. Từ ngày ấy, trong đời sống đức tin em có cái tên Lau-ren-sô Phạm Hân Quynh, thay vì Phạm Hân Quynh theo cách gọi xã hội thông thường.

Cha mẹ chọn một vị thánh bảo trợ cho con mình, là hy vọng con sẽ noi theo gương vị thánh ấy trong đời sống thường ngày. Lau-ren-sô là một phó tế đã chịu chết vì đạo, bị nướng trên giường sắt vì bảo vệ Giáo hội và tài sản của Giáo hội. Chuyện kể rằng khi bị bắt quan trấn thủ ra lệnh phải nộp tài sản nhà chung, Laurenxô khất ba hôm sau sẽ nộp đủ, Người nói : Thưa quan lớn, thật chúng tôi giàu lắm, của cải của nhà vua cũng không so bằng, Laurensô tạm được tha, liền tụ tập anh em nghèo đói Giáo hội vẫn nuôi rồi cho người trình quan : Mời quan lớn đến xem tài sản đầy ắp một sân nhà thờ. Khi quan trấn thủ đến, Laurensô chỉ đám người què mù, điếc, câm, đói mà nói : Thưa quan lớn tài sản quý giá nhất của chúng tôi đây.

Đời thánh Lau-ren-sô là thế. Thế còn đời bé Lau-ren-sô Phạm Hân Quynh sau này ra sao ?

Người đời thì nói là định mệnh, « người đạo » thì tin rằng đó là ý Chúa, ý Chúa đã chọn bé Lau-ren-sô Phạm Hân Quynh làm sứ giả tình yêu của Ngài tại trần gian. Nhận và noi gương vị thánh bổn mạng, bé Lau-ren-sô Phạm Hân Quynh đã trở thành sứ giả tình yêu Chúa trong nhiệm vụ một mục tử, chọn người nghèo làm gia nghiệp. Trở nên nghèo giữa những người nghèo, sống nghèo giữa những người nghèo không chỉ về mặt vật chất mà cả về học thức lẫn tinh thần.

Được thụ phong Linh mục từ khi còn rất trẻ, bé Quynh ngày nào giờ thành cha Quynh và dần trở thành cha già Quynh, thành cha chính (tổng đại diện) rồi thêm cái tước để mọi người là Đức Ông… tất cả những điều ấy không làm thay đổi lối sống nghèo của cha. Trở nên người nghèo để sống cuộc sống của người nghèo khó giữa họ không phải là một điều hiển nhiên ai cũng có thể làm được, không phải mục tử nào cũng có thể sống được. Hy sinh sống nghèo về vật chất là một chuyện, nhưng hy sinh sống nghèo cả về tinh thần lẫn học thức không phải là chuyện dễ trong một môi trường sống mà người ta coi vật chất, quyền lực, danh vọng là cao sang… nơi đó « cái chức » thường đi với « cái quyền », đồng tiền đi liền với vị thế… cái sự học với văn bằng chiếu chỉ gắn liền với tất cả những thứ ấy.

Ở đây xin bỏ qua cái nghèo về vật mà chỉ nói về việc chấp nhận cái nghèo về trí thức và tinh thần. Đã từng là một người du học tại Paris với một khối kiến thức đạo đời thuộc hàng trí thức, vậy mà trong vai trò mục tử của mình, cha đã trở nên nghèo về tầm vóc một người trí thức để giáo dân, lương dân, tất cả những ai đến với cha, dù là thuộc tầng lớp nào cũng tìm được những ngôn từ, câu nói dễ hiểu, dễ thông cảm, gần gũi, không có sự cách biệt. Chính điều này đã thu hút biết bao người khi cha còn sinh thời đến gặp gỡ ngài, nói chuyện cà kê ruộng đồng thóc lúa, buôn bán, học hành, nghề nghiệp… thôi thì đủ mọi thứ chuyện trên đời.

Hình như không ai đến gặp gỡ cha rồi ra về mà cảm thấy mình bị coi thường về kiến thức đạo-đời, dù người ấy có học hay thất học, nông phu hay trí thức, dân thường hay quan chức. Mọi người qua những cuộc gặp gỡ dù ngắn hay dài, trao đổi nhiều hoặc ít, đều thấy mình được tôn trọng đúng mực, với kiến thức và sự hiểu biết riêng của họ.

Trong đời mục vụ của mình, vì thông cảm và chấp nhận trở nên nghèo về trí thức để sống như một trí thức nghèo với giáo dân, cha luôn dùng thời gian, có khi là một vài tháng, một vài năm hoặc hơn nữa, để chia sẻ, giải thích cho giáo dân hiểu những điều cần thay đổi trong đời sống xã hội và đức tin. Riêng chuyện đọc kinh chiều hôm ban sáng ở nhà thờ chẳng hạn, ngài dùng rất nhiều năm để nói cho giáo dân hiểu dần dần nên thích nghi thế nào, theo mùa, theo tháng, cho kinh kệ không dài lê thê, để miệng đọc lòng có thể suy, chứ không đọc như cái máy…

Rồi cha viết sách tháng như một cách dạy giáo lý cho giáo dân trong thời kỳ không được học giáo lý. Viết cho giáo dân thì theo ngôn từ, cách nói của giáo dân, để giúp họ hiểu và nhận thức được. Thời đó, lúc đó là thế, cần phải làm thế nào cho giáo dân thăng tiến thì cha đều cố gắng làm. Không có sách vở, không đủ ánh sáng, không có âm thanh, thì bài đáp ca chẳng hạn, bốn năm người đọc to làm sao cả nhà thờ nghe, đọc cả câu đáp rồi mọi người đáp lại… chính những điều đó ngày qua ngày năm qua năm đã làm giầu kiến thức giáo lý, văn hóa của giáo dân.

Khi biết « dâng xuống » là thế, là đặt mình bằng giáo dân, một cách nào đó là sống mầu nhiệm nhập thể, nhập vào cuộc sống hiện tại của đoàn chiên, sống với đoàn chiên, giữa đoàn chiên để nâng đoàn chiên của mình lên về mọi mặt. Đây là điều cha đã cố gắng làm cả đời, lúc khó khăn thì làm theo kiểu khó khăn, khi thuận tiện thì làm theo thời thuận tiện. Thuận tiện rồi cha đã cố gắng hy sinh, tìm kiếm tài chính kinh tế để giúp đỡ con em giáo dân được đến trường, mở mặt mở mày với xã hội. Nhiều thế hệ trẻ em có hoàn cảnh khó khăn đã được cắp sách đến trường, có những người ngay nay đã có nghề nghiệp chức vụ ổn định…

Tiếc rằng chuyện ấy từ ngày cha đau bệnh đã dần kém và mất đi. Không biết rồi sẽ có ai theo cha có thể tiếp tục công việc ấy để thực hiện một trong những tâm nguyện của cha là làm sao đào tạo ra những người công giáo trí thức. Cha thường chia sẻ và nói những trí thức công giáo thì rồi đây ta sẽ không thiếu, nhưng những người công giáo trí thức thì sẽ không dễ có, và đó là điều ta cần.

Đôi dòng dông dài, nhân ngày lễ bổn mạng cha nhớ về ngài, mong một điều gì đó sẽ có thể trở thành hiện thực. Xin cầu cho chúng con !

Lm. Phê-rô Nguyễn Văn Diện

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi