Về cha già Quynh

Nhân đức nghèo nơi người cha già khả kính

Ngày đăng:12-08-2019 |3:07 AM | 85 Lượt xem

NHÂN ĐỨC NGHÈO NƠI NGƯỜI CHA KHẢ KÍNH
(Ngày Lễ thánh Lau-ren-sô, Quan thầy của Cha 10.08.2019)

Khi còn sống, thỉnh thoảng Cha chỉ nói vài câu vắn vỏi nhưng mang đầy ý nghĩa và có sức ảnh hưởng rất lớn đến những người bên Cha. Cha chia sẻ: giáo dân đều đi xe đạp thì tôi cũng chỉ đi xe đạp; đến khi giáo dân có xe máy thì tôi dùng xe máy; chắc chắn khi nào giáo dân có ô tô đi, thì tôi sẽ đi ô tô. Cha đã sống và luôn áp dụng đúng như Cha quả quyết. Tư tưởng và hành động của Cha luôn đồng nhất. Đây không chỉ là một lời quả quyết đơn thuần nhưng nó còn diễn tả tinh thần đồng cam cộng khổ của người chủ chăn với đoàn chiên của mình. Tư tưởng ấy trở thành kim chỉ nam cho cuộc đời linh mục của Ngài đồng thời chi phối cả một cuộc đời người mục tử: luôn chọn lối sống đơn sơ giản dị; gần gũi với hết mọi người, đặc biệt người nghèo. Cha muốn sống nghèo, và nghèo thật chứ không phải hình thức, để dễ cảm thông và chia sẻ với nỗi vất vả của những người nghèo khó.

Nói về nhân đức khó nghèo nơi Người Cha kính yêu, chắc chắn trong tâm khảm của những ai đã từng gặp gỡ và sống với Ngài hiện lên rất nhiều hình ảnh và cảm xúc khác nhau. Chúng ta ắt còn nhớ hình ảnh Người Cha già lặng lẽ đạp chiếc xe Peugeot cũ kỹ màu xanh với chiếc túi đeo trên vai đi từ xứ này qua xứ khác, đi làm mục vụ khắp nơi và đến các gia đình thăm hỏi động viên giáo dân… Ngài đi đến đâu là rinh ran tiếng trẻ em và người lớn reo mừng chào đón: Con chào Cha!!! … Cha chào con!!! Các em chào Ngài với cung giọng nào thì Ngài đáp lại đúng cung bậc ấy! Ngài tỏ ra như muốn làm bạn với chính các em nhỏ. Chỉ nghe được tiếng Ngài vọng từ xa là từng đoàn lũ các em nhỏ trong các xóm làng ùa ra đường để được gặp Cha và chào Cha. Bé nào cũng muốn được chào Cha trước và được Cha nhìn thấy. Có khi Ngài dừng xe nói chuyện, bắt tay và xoa đầu các bé. Những hình ảnh này sao thân thương và gần gũi quá! 

Các phòng sinh hoạt của Cha thì vô cùng giản dị: nền đất nện, nền lát gạch hoặc nền xi măng (không lát đá hoa); phòng ngủ không điều hòa; trong phòng chỉ đơn giản có một cái giường nhỏ, một bộ bàn trà cho khách ngồi với cái điếu thuốc lào và bộ ấm trà trên bàn và một bàn làm việc nhỏ; nhà tắm không bình nóng lạnh… nói chung tất cả đồ dùng của Ngài đều vô cùng đơn giản và bình dị. Nhiều xứ họ đạo đã muốn trang bị cho Ngài các phòng sinh hoạt tiện nghi và sắm sửa cho Ngài những đồ dùng sang trọng nhưng đều bị Ngài từ chối. Ngài luôn tỏ ra cương quyết và giải thích: phòng cụ đạo nền lát gạch hay nền xi măng dễ cho giáo dân đến, đặc biệt người nghèo. Nền đá hoa nhiều người không quen và ngại vào. Đúng là thời ấy mấy nhà ở quê có nền đá hoa đâu nên vào nhà nào lát nền đá là thấy sang trọng lắm. Từng chi tiết như vậy luôn được Ngài lưu tâm và cẩn thận xem xét. Về đất Tiên Lãng người dân đa phần hút thuốc lào thì Ngài cùng hút thuốc giống họ để trở nên tất cả với mọi người.

Nhiều người cho Cha quần áo mới để mặc nhưng chỉ vài ngày sau không thấy và khi được hỏi thì Cha nói là cho người khác rồi. Tương tự giầy dép và các đồ dùng cá nhân khác cũng vậy, Cha dùng vài ngày lại không thấy còn và thế là chúng lại chuyển địa chỉ đến nơi khác. Phòng của Ngài không bao giờ đóng, tủ không bao giờ khóa và đồ dùng cũng chẳng có gì gọi là “đáng giá” phải cất giấu. Ai mua sắm cho cái gì thì Ngài dùng cái đó, không bao giờ yêu cầu hay đòi hỏi gì. Bữa ăn hằng ngày dù ngon hay không thì Ngài hưởng dùng một cách vui vẻ, không bao giờ phàn nàn. Họa chăng, Ngài chỉ vui vẻ hướng dẫn và chỉ dạy cho mấy cô hay chú sắp bữa để có cách nấu món tốt hơn cho những lần sau, giống như những chỉ bảo nho nhỏ giúp mọi người tiến bộ. Thực tế thì dù đồ ăn ngon hay nhạt thì một bữa Ngài cũng chỉ lưng bát cơm. Quan điểm của Ngài là ăn ít thì rất tốt cho sức khỏe, nhất là cho dạ dày; ngoài ra, còn một ý nghĩa nữa mà tôi cảm nhận được, đó là Ngài muốn tiết chế và làm chủ bản thân trong vấn đề ăn uống!

Trong Giáo phận Hải phòng chắc hẳn ai cũng phải thừa nhận Ngài là người “nghèo nhất” vì một lối sống đơn sơ, nhưng Ngài cũng lại là người “giàu nhất” trong hàng Linh mục thời điểm ấy. Bởi lẽ Ngài giàu về tri thức và kiến thức đa chiều, cả về tôn giáo và văn hóa xã hội; giàu về tình cảm, giàu tình mục tử và tình con người; Ngài cũng giàu về của cải vật chất vì rất nhiều các tổ chức tôn giáo hay - xã hội hay những nhà hảo tâm luôn cậy nhờ Ngài như trung gian để trợ giúp cho người nghèo; những người có điều kiện, cả lương lẫn giáo, cũng luôn tin tưởng thông qua Ngài để chia sẻ tình bác ái. Tuy vậy, Ngài luôn ví mình như cái “giỏ không đáy” – nghĩa là cái giỏ không để đựng mà cái giỏ có lỗ hổng để lọt xuống các giỏ khác. Ngài cũng tự nhìn nhận mình luôn có rất nhiều của cải vật chất nhưng không phải do mình sở hữu và quy hướng về bản thân, nhưng trái lại Ngài luôn coi đó là những phương tiện để giúp người khác; Ngài trở nên cầu nối để những người hảo tâm thiện chí đến được với người cần giúp.

Đây là lối sống và tinh thần “nghèo tự nguyện” như Ngài luôn giải thích cho giáo dân. Thực ra tư tưởng này của Ngài không phải là điều mới mẻ, nhưng điều đáng nói ở đây là cách Ngài thực thi Lời dạy của Đức Giê-su và áp dụng vào hoàn cảnh của riêng mình. Tất cả trở nên một lẽ sống và nhân đức của người mục tử nhân lành. Tư tưởng ấy khởi nguồn từ chính Đức Giê-su Ki-tô, Chúa chúng ta: “Đức Giêsu Kitô vốn dĩ là Thiên Chúa, mà không nghĩ phải nhất quyết duy trì địa vị ngang hàng với Thiên Chúa, nhưng đã hoàn toàn trút bỏ vinh quang, mặc lấy thân nô lệ, trở nên giống phàm nhân, sống như người trần thế” (Phil 2, 6-8). Và đó là tinh thần tự nguyện và sự khó nghèo thực sự của Đức Giê-su: Đấng vốn giầu sang phú qúy nhưng đã tự ý trở nên khó nghèo vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có” (2 Cor 8,9). “Người có tâm hồn khó nghèo”, vì không cố giữ lại gì cho riêng mình, nên có được mọi sự; người đó nghèo về chính mình nhưng lại giầu có về Thiên Chúa. 

Theo con mắt người trần, Cha là người có quyền cao chức trọng trong Giáo hội và là người sở hữu nhiều của cải vật chất, vậy thì có quyền chăm lo cho bản thân và sử dụng ở mức cần thiết cho cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Tuy vậy, Ngài đã vượt qua cái nhìn giới hạn ấy, vượt qua tinh thần của thế gian để tiến xa hơn đến với nhãn quan của đức tin Ki-tô giáo. Ngài tự nguyện sống nghèo thật, để gần với người nghèo và cảm thông được hoàn cảnh của họ. Ngài đi đến tận cùng với cái nghèo của giáo dân và lương dân để tìm cách giúp mọi người và nhâng mọi người ra khỏi hoàn cảnh khó khăn của họ. Thực quả không hề dễ thực hành được điều ấy, vì khuynh hướng tự nhiên của con người thì thích sung sướng và nhàn hạ. Nhưng Người Cha của chúng ta đã làm được, ắt hẳn Ngài đã có kinh nghiệm thẳm sâu về một Giê-su nghèo và họa đời mình theo gương của Thầy Giê-su. Ngài đã nghiệm ra được và thực thi lời mời gọi của Thầy Giê-su: “Con chồn có hang, chim trời có tổ, nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu” (Lc 9, 58).

Gần đây trong dịp khai mạc Đại hội thường niên của Hội đồng Giám mục Ý ngày 21/05/2018, Đức Thánh Cha cũng bày tỏ với anh em Giám mục: “đối với tôi là một tu sĩ Dòng Tên, khó nghèo vẫn luôn là “Mẹ” và là “Tường Thành” của đời sống tông đồ; là Mẹ vì làm nảy sinh và tường thành vì bảo vệ. Nếu không có đời sống khó nghèo thì không có lòng nhiệt thành tông đồ. Ai tin thì không thể nói về khó nghèo mà lại sống như ông hoàng. Thật là một sự phản chứng khi nói về đời sống khó nghèo mà lại sống sa hoa.

Nguồn : fb Vũ Bình An

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi