Về cha già Quynh

Chia sẻ lễ giỗ lần thứ năm Đức Ông Lau-ren-sô Phạm Hân Quynh

Ngày đăng:18-07-2017 |9:37 AM | 827 Lượt xem

"Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách tôi"

Chia sẻ lễ giỗ lần thứ năm

Đức Ông Lau-ren-sô Phạm Hân Quynh

Nhân ngày giỗ lần thứ năm của Đức Ông Lau-ren-sô Phạm Hân Quynh hôm nay, tôi xin mạn phép được ôn lại và chia sẻ với cộng đoàn một vài nét chính yếu về con người và đời sống của ngài, cũng xin được dùng từ “cha” hay “cha già” cho gần gũi, thân thương, như bình thường ngài thích được gọi. Bài chia sẻ nay tóm tắt lại một số ý tưởng của các Đức Cha, các cha và những anh chị em giáo dân yêu mến ngài đã nói hay viết ra.

Cha già Lau-ren-sô Phạm Hân Quynh là người thuộc giáo xứ Trì Chính, Giáo phận Phát Diệm, sinh ngày 30/8/1926, tạ thế ngày 22/7/2012 tại giáo xứ Đông Xuyên, Giáo phận Hải Phòng. Năm 1952 ngài được thụ phong Linh mục tại Paris cho Giáo phận Hà Nội, sau đó ngài bị buộc phải trở về Việt Nam vì đấu tranh chống lại sự xâm lăng của người Pháp tại Việt Nam. Về Hà Nội một thời gian sau ngài làm cha xứ ngài vẫn tiếp tục đấu tranh cho hoà bình dân tộc, lại một nữa bị người Pháp ép, nên ngài phải về làm thư ký cho Đức Cha Giu-se Ma-ri-a Trịnh Như Khuê, nhưng ý Chúa lại muốn ngài về phục vụ tại Giáo phận Hải Phòng. Ngài đã về Giáo phận Hải Phòng với Đức Cha Phê-rô Ma-ri-a Khuất Văn Tạo.

Vâng, trong suốt 60 năm đời Linh mục, thì ngài đã sống và phục vụ 56 năm tại Giáo phận Hải Phòng, nghĩa là đến khi qua đời. "Cuộc đời của cha thật gian nan vất vả nhưng cũng rất trung kiên và mạnh mẽ. Nhìn lại những năm tháng thăng trầm của đời người linh mục, cũng là nhiệm vụ của một ngôn sứ, chúng ta thấy Chúa đã đặt cha già Laurensô là người canh gác và bảo vệ đoàn chiên, tức là cộng đoàn các tín hữu". “Là linh mục, cha là người của Chúa và Giáo Hội. Cha đã can đảm đương đầu với mọi thử thách. Cha luôn đứng về phía Chúa, luôn thưa vâng với Chúa và nói không với những âm mưu chống lại Giáo Hội”.

Các quý vị lớn tuổi từ Hải Phòng ra đi có lẽ đều rõ, sau cuộc di cư năm 1954 và cuộc cải cách ruộng, thì miền Bắc, đặc biệt Giáo phận Hải Phòng "được sánh ví như một thân thể bị đánh tơi tả, vợ tố chồng, con tố cha, niềm tin nơi con người đã bị đánh mất, đức tin vào Chúa thì rời rạc và lòng người thì hoang mang. Phần lớn giáo dân của Hải Phòng đã di cư vào miền Nam, số còn lại quá ít lo sợ không biết ngày mai sẽ ra sao. Đức Cha Phê-rô Ma-ri-a và cha thư ký Phạm Hân Quynh đã đến giúp họ lấy lại niềm tin vào cuộc sống, tiếp tục sống ơn gọi làm con cái Chúa và xây dựng cộng đoàn". Thời kỳ ấy “các giáo xứ như đàn chiên tản mác bơ vơ, ngài đã lặn lội ngược xuôi để quy tụ họ về bên Đức Giám Mục, là chủ chăn đích thực của giáo phận. Đoàn chiên ấy bị sói dữ rình rập cắn xé ngày đêm, ngài đã giang tay xả thân để bảo vệ họ”.

1 - Là một linh mục của Chúa, cha luôn xin với Chúa cho được sống đến lúc chết, chứ không để chết trong khi còn sống, nghĩa là sống mà không làm việc sinh lợi cho Nước Chúa. Vì thế, nên cả đời cha luôn hăng say, nhiệt thành trong sứ vụ mục tử của mình. Trong suốt gần ba chục năm bị quản chế và cả những năm đau bệnh sau này, cha vẫn dạy giáo lý, làm việc như một chứng nhân không mệt mỏi. Hy sinh làm việc Chúa đến hơi thở cuối cùng là tâm nguyện cuộc đời của cha, vì thế nên ngài đã tận dụng tất cả mọi điều kiện, hoàn cảnh để rao giảng Lời Chúa, nhiệt thành đem giáo huấn của Chúa đến cho mọi tầng lớp Dân Chúa. Trong thời kỳ khó khăn ngài đã đào tạo chui các linh mục tương lai và tìm mọi phương thế để giáo dân có thể tiếp cận Lời Chúa, giúp họ sống Phúc Âm giữa lòng dân tộc. Công việc ấy ngài tiếp tục làm cho đến hơi thở cuối cùng.

2 - Ý thức được sứ mạng mục tử là phải hướng dẫn đoàn chiên tham gia tích cực vào đời sống Giáo hội, cha đã cố gắng đào tạo những linh mục và giáo dân trưởng thành, ý thức được vai trò, sứ mạng của mình, biết làm chủ Giáo hội ở vị trí mình. Đây là điều vẫn còn khó chấp nhận tại nhiều nơi trong Giáo hội tại Việt Nam. Một bạn trẻ kia đã viết về ngài như sau : “Cha đã mang đến cho chúng con tự tin, đã dạy chúng con biết đối thoại, dù dốt nát nhưng dám nói nên suy nghĩ của mình, dù yếu kém nhưng không nhút nhát, sợ sệt. Là linh mục tài ba, học rộng, đã đi rất nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều tầng lớp trí thức đạo đời... nhưng chúng con vẫn rất thoải mái khi tiếp xúc với cha, chẳng có gì xa cách. Cha đã luôn tiếp đón chúng con bằng sự khiêm nhường và bằng lòng mến yêu, khiến chúng con gặp một lần thì luôn muốn gặp thêm lần nữa và lại lần nữa… Cha đã không muốn chúng con cứ mãi là giáo dân chỉ biết giữ đạo làng theo kiểu cha truyền con nối, chỉ biết vâng dạ… Cha đã dạy, đã thay đổi tư tưởng và giúp chúng con dần phá bỏ những rào cản lương giáo, những trì trệ kém hiểu biết, hiểu sai về giáo lý, về bà con bên lương, đạo Phật, văn hoá... Để chúng con thêm yêu mến những người khác tôn giáo với chúng con và biết cách giới thiệu Thiên Chúa cho họ”.

3 - Ý thức mình là một mục tử theo bước Đức Giê-su, noi gương thánh bổn mạng Lau-ren-sô, cha già đã trở nên nghèo giữa những người nghèo, chọn người nghèo làm gia nghiệp, ngài hết sức lo lắng cho họ cả về tinh thần và vật chất. “Cha già thực sự đã là một Mục tử của những La-da-rô và Lau-ren-sô nghèo khó, một mục tử của những Gia-kêu, của những Ma-ri-a Mác-đa-la, một mục tử của trẻ nhỏ, người già, bà goá... mục tử của người nghèo, mục tử của giáo dân và của cả những người lương dân nữa”. Vì thế ngài luôn cố gắng tạo mối liên hệ thân thiện, hiểu biết lẫn nhau giữa lương và giáo. Không bao giờ cha già đã chấp nhận sống trên mức sống của một người giáo dân bình thường. Cha tổng đại diện Giáo phận Hải Phòng nói như sau : “Ít có người giầu có như cha, nhưng cũng chẳng có ai nghèo như cha, vì cha đã trở nên người nghèo giữa những người nghèo, cha đã làm cho chúng con trở nên giàu có, những người giàu có mà không của cải trần gian nào có thể sánh ví được”.

4 - Là linh mục của Chúa và của Giáo hội, nhưng đồng thời cha muốn là linh mục Việt Nam, suốt đời cha già phấn đấu cho một lý tưởng, sống cho một tâm nguyện : “Tôi là linh mục Việt Nam”. Đó là lâm nguyện cũng là con đường thập giá thật sự của đời cha. Vì lý tưởng và tâm nguyện ấy, cha đã chấp nhận bị chống đối, bị hiểu lầm và bị từ khước từ mọi phía, sự từ khước ấy vẫn còn theo cha cách này hay cách khác dù ngài đã qua đời. “Là linh mục của Chúa và của Giáo hội, nhưng đồng thời cha muốn là linh mục Việt Nam, nghĩa là cha yêu mến tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Cha muốn phục vụ và làm vẻ vang tổ quốc và dân tộc Việt Nam. Cha mong muốn và xây dựng một Giáo hội Việt Nam, Giáo hội này phải hiệp thông hoàn toàn với Giáo Hội hoàn vũ, nhưng đồng thời cũng bén rễ sâu vào nền văn hóa và lịch sử dân tộc”.

Đức Tổng Giám mục Phê-rô Nguyễn Văn Nhơn nói về cha già như sau : “Ngài thật là một chứng nhân sáng chói của đời sống Linh mục, lỗi lạc và thánh thiện ; Một mục tử trung kiên và tận tụy với đoàn chiên ; Một tông đồ nhiệt thành trong sứ mạng truyền giáo. Một thầy dạy góp phần quan trọng vào việc xây dựng và phát triển của công cuộc đào tạo giáo dân, tu sĩ, giáo sĩ tại Giáo phận Hải Phòng”.

Cha già đã không chỉ được giáo dân, nhưng cả lương dân, chính quyền nể trọng. Phía chính quyền khi đã hiểu hơn về ngài đều đánh giá cao nỗ lực sống và làm cho giáo dân sống “Phúc Âm trong lòng dân tộc” của cha già. Ngài được coi là cây đại thụ của Giáo hội miền Bắc, không chỉ vì đã xả thân bảo vệ, hướng dẫn đoàn chiên, "là một dũng sĩ đức tin, là một mục tử nhân hiền và can đảm, kiên cường, một người thầy lỗi lạc tài ba nhưng luôn luôn khiêm nhường và mẫu mực. Cuộc đời của Đức Ông gặp muôn ngàn khó khăn cay đắng, nhưng tâm hồn người thì luôn luôn hy vọng tin yêu. Có thể nói rằng tình yêu của người suốt đời là dành cho Chúa, cho Hội Thánh, cho tổ quốc thân yêu, cho giới trẻ, cho những người yếu đau cả tinh thần và thể xác, và cho mọi người", nhưng còn vì những tư tưởng giáo lý và thần học về “hội nhập văn hoá” của ngài, vì tâm nguyện "là linh mục Việt Nam" của ngài.

Ôn lại vài nét về cuộc đời của cha già không phải theo kiểu “mẹ hát con khen hay”, vì tất cả những điều ấy là sự thật, người thật việc thật, nhưng để qua đó ta thấy “Thiên Chúa luôn thể hiện tình yêu thương và quyền năng của Ngài” trong mọi hoàn cảnh nếu ta tín thác nơi Người. "Tôi sống nhưng không phải tôi sống mà là Đức Ki-tô sống trong tôi". Chính "nhờ ơn Chúa mà cha già đã có thể làm việc dẻo dai, kiên trì, chịu đựng, tha thứ, kiên nhẫn với một nghị lực phi thường” dù cuộc đời có nghiệt ngã ra sao…

Chúng ta cầu nguyện cho cha già, nhưng cũng xin ngài cầu bầu cùng Chúa cho mỗi chúng ta, để ta luôn biết tín thác nơi Chúa trong mọi hoàn cảnh của cuộc sống, cho ta ý thức được bổn phận, trách nhiệm của mình trong đời sống Giáo hội, để Chúa hoạt động trong ta và qua ta trong công cuộc rao giảng Tin Mừng, xây dựng Nước Chúa. Amen.

 

Los Angeles 15/7/2017

Lm Phê-rô Nguyễn Văn Diện

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi