Về cha già Quynh

Cha Quynh, con người, sự kiện giai thoại, c.2, phần cuối

Ngày đăng:01-07-2017 |6:01 AM | 733 Lượt xem

CHƯƠNG HAI

TỪ BIỆT GIA ĐÌNH – TRÔI NỔI ĐỜI HỌC SINH

 (phần cuối)

11. LÀM GIA SƯ NHÀ ÔNG MAI VĂN HÀM

   & GIAO LƯU VỚI NHÓM CÁCH MẠNG

     Hồi ấy người công giáo Việt Nam ở Hà Nội, nổi tiếng học giỏi và có tinh thần yêu nước nữa là hai ông Nguyễn Mạnh Hà và Mai Văn Hàm. Ông Hà coi thầy Quynh là bạn thân, dầu hơn tuổi thầy, còn ông Hàm coi thầy Quynh là người nhà. Ông Hàm có hai cô con gái và hai cậu con trai  đều nhờ thầy Quynh làm gia sư kèm cặp. Hai cô con gái học một lớp còn hai cậu con trai học một lớp. Mặc dầu thầy trò tuổi không chênh lệch nhau là mấy, song các cô cậu là con nhà gia giáo nên ứng xử với thầy Quynh rất thân tình nhưng không quá trớn. Đặc biệt, hai cô gái luôn khép nép đoan trang, nói năng cẩn trọng.

     Thầy nhiệt tình dạy, trò hào hứng học nên hiệu quả học tiến rất nhanh. Ông Hàm thấy các con học như vậy thì mãn nguyện lắm. Thầy Quynh làm gia sư mà không lấy học phí nên ông Hàm muốn mua thứ nọ thứ kia tặng thầy, thầy Quynh đều từ chối.

     Thời bấy giờ nhà ông Mai Văn Hàm đã trở thành nơi hội tụ của những người công giáo trí thức và một số lãnh tụ cách mạng. Thầy Quynh ngày nào cũng được mời ăn cơm ở đây. Bữa cơm nào cũng đông vui và sang như ăn cỗ. Trong bữa ăn thường có ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp, Nguyễn Văn Đệ, Nguyễn Tấn Zi Trọng, Nguyễn Mạnh Hà… Tỉnh thoảng cũng có mặt hai vị cố vấn là Giám mục Lê Hữu Từ và cựu Hoàng đế Bảo Đại.

     Từ ngôi nhà này, và từ trong những bữa ăn, các thực khách toàn say sưa bàn việc nước. Tuần lễ Vàng mấy ngày sau Cách mạng Tháng 8 cũng từ đây nghĩ ra; cha Phạm Bá Trực cũng từ đây chọn đề cử vào Quốc hội; Trần Văn Lai cũng từ đây đề xướng việc đi giật đổ các tượng đài Tây ở vườn hoa. Rồi bàn thành lập ngân hàng, bàn soạn thảo các văn bản cho Chính phủ Lâm thời…

                                          ***

     Chúng tôi được nghe cha Quynh kể chuyện này từ năm cha mới về Hải Phòng. Lúc đó tôi hỏi cha:

     - Ngoài ăn và nghe, cha có làm được việc gì trong cái nhóm “cao cấp” ấy không ạ ?

     - Có chứ! Ở đây có hai tờ báo là DÂN QUỐCKIẾN QUỐC, Tam Lang cũng ở đây viết báo. Tôi được giao duyệt lại các bài viết của Tam Lang, vì văn Tam Lang hơi mạnh. Tôi phải sửa lại cho ôn hòa hơn. Thế rồi một số văn bản soạn ra cho chính phủ, “các tướng” nhà ta toàn soạn bằng Pháp văn, rồi nhờ tôi chuyển dịch sang Việt văn. Quả là ngữ pháp tiếng Tây dễ viết đúng hơn ngữ pháp tiếng Ta.       

                                        ***

     Cha Quynh quen biết các nhân vật lịch sử là vì thế. Khi cha bị quản chế ở Tiên lãng, một số các vị ấy có lần lượt về thăm cha để giữ trọn tình cũ nghĩa xưa. Dân Tiên Lãng thi thoảng thấy có đoàn xe con bóng loáng về Xuân Hòa gặp cha Quynh, lại có cả xe cảnh sát hộ tống, họ thì thầm bảo nhau: “Không biết ông Quynh phản động đến cỡ nào mà phải Trung ương về thẩm vấn, lấy cung”.  Sau này, họ cũng hiểu ra ông cha Quynh không hề phản động mà suốt đời chỉ bơi ngược dòng nên mang họa vào thân.

 

12. LONG ĐONG HỌC CHỦNG VIỆN  (1945-1947)

     + Chủng viện Liễu Giai.

     Mùa Thu năm 1945, chủng viện Liễu Giai mở cửa khai giảng. (Chủng viện của hội dòng Saint Sulpice nên còn gọi là chủng viện St. Sulpice hay Xuân Bích. Nằm trên đường Liễu Giai – Hà Nội). Thày Quynh đã vào học chủng viện này. Nhưng chủng viện mới khai giảng được vài ba tháng thì đã xảy ra trục trặc: Chính quyền Cách mạng nói là có nhu cầu muốn sử dụng khu nhà trường Liễu Giai, đề nghị Tòa Giám mục Hà Nội mau chóng bàn giao. Nhà nước sẽ thuê với giá 1 đồng Đông Dương một năm (!?). Thực chất là tịch thu và giải tán chủng viện.

     Vì thế, chủng viện phải tạm thời giải thể, các cha giáo và chủng sinh đành ngậm ngùi chia tay nhau. Thày Quynh mượn cha Giám đốc toàn bộ giáo trình học để về nhà tự học.

 

     + Đan viện Châu Sơn.

     Rời chủng viện Liễu Giai, thày Quynh không về nhà mà giạt vào Đan viện Châu Sơn thuộc huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình. Thày đã ở đó 10 tháng tự học hành, nghiên cứu, và giúp cha Bề trên Gioan Nguyễn Văn Thảo dạy học các tu sinh nhà dòng. Thày cũng có dịp tiếp cận tìm hiểu tinh thần và linh đạo dòng: Một dòng tu chiêm niệm, bắt nguồn từ truyền thống đan tu kì cựu trong Giáo hội do Thánh Phụ Bênêdictô sáng lập. Tu luật dòng là sống hãm mình ép xác, CẦU NGUYỆN VÀ LAO ĐỘNG (ora et labora). Bởi thế, thày Quynh cảm phục căn tính của dòng là rất cao, song không phù hợp với tính cách con người và ý nguyện của thày.

 

     + Thày Quynh và Đức cha Lê Hữu Từ.

     Đan viện Châu Sơn thuộc giáo phận Phát Diệm. Đức cha Anselmo Lê Hữu Từ làm Giám mục Phát Diệm, nguyên là bề trên tiên khởi Đan viện Châu Sơn. Ngài biết tin thày Quynh đang tạm trú tại dòng Châu Sơn, ngỏ ý muốn gọi thày về Phát Diệm thu nạp làm đệ tử để viết lách cho ngài. Đức cha Từ biết khá rõ về thày Quynh vốn là người Phát Diệm, và đã một vài lần chạm trán trong nhà ông Mai Văn Hàm, sợ thày trẻ người non dạ, có những bước đi lệch lạc sai lầm, muốn kèm cặp giám sát thày.

     Còn thày Quynh cũng biết khá rõ về Đức cha Từ: Khi còn là linh mục Bề trên dòng Châu Sơn, cụ Từ và cụ Hồ đã có mối quan hệ đi lại với nhau. Tháng 10 năm 1945, cụ Từ được Tòa thánh tấn phong làm Giám mục giáo phận Phát Diệm, cụ Hồ đã cử một phái đoàn cao cấp về dự lễ gồm có ông Võ Nguyên Giáp, Phạm Văn Đồng, Nguyễn Vĩnh Thụy (tức vua Bảo Đại), Nguyễn Mạnh Hà, Trần Huy Liệu…

      Hồi ấy ở vùng Kim Sơn – Phát Diệm còn hay xảy ra cướp bóc hoành hành. Có lần cụ Từ về Hà Nội họp, ở nhà quân cướp kéo đến cướp phá gây thiệt hại nặng nề cho Tòa Giám mục. Cụ Hồ biết tin, muốm phái một đơn vị vũ trang về đóng tại nhà thờ Phát Diệm để bảo vệ an ninh cho khu vực này.

     Cụ Lê Hữu Từ cám ơn cụ Hồ và không dám nhận sự quan tâm ấy. Với lí do rằng quá tốn kém; để nhà nước Cách mạng phải đài thọ thì không công bằng, mà nhà thờ Phát Diệm phải chi trả thì không có khả năng tài chính. Cụ Từ chỉ khiêm tốn xin thành lập một nhóm tự vệ dân công giáo có chút vũ trang loại nhẹ là đủ. Cụ Hồ đồng ý, và nhân dịp phái đoàn Chính phủ về dự lễ tấn phong Giám mục, ông Phạm Văn Đồng đã kí lệnh cho cụ Từ thành lập một lực lượng vũ trang có tên là: Đội “Việt Nam Công Giáo Cứu Quốc” và liên lạc hàng ngang với “Mặt trận Việt Minh”.

     Dần dà Đức cha Lê Hữu Từ mới hiểu ra Cụ Hồ và Việt Minh chính lõi là cộng sản vô thần. Một Giám mục công giáo mà làm cố vấn cho hệ phái vô thần thì cực kì phi lí. Nhất là sau khi cụ Hồ kí hiệp định cho quân đội Pháp trở lại Việt Nam, biết trước sau sẽ xảy ra chiến tranh, nhà nước đề ra chính sách tiêu thổ kháng chiến: Đình, chùa, nhà thờ… phải đập phá đi thì cụ Từ đã rút ra khỏi sự hợp tác với cụ Hồ.

     Cụ Từ biết rõ: Tháp chuông bằng đá, một kì công kiến trúc của nhà thờ Phát Diệm cũng nằm trong mục tiêu phải đập phá. Mình không tự tay đập thì Việt Minh sẽ đến đập. Do đó, lực lượng tự vệ ban đầu để nhằm chống cướp thì nay là lực lượng bảo vệ không cho Việt Minh đến phá nhà thờ.

     Thày Quynh hiểu do hoàn cảnh đưa đẩy, Đức cha Từ đang bị cơn lốc chính trị cuốn sâu vào việc thế trần, thày không muốn hợp tác với Đức cha Từ. Nhưng thày biết Đức cha Từ đang giám sát và có màng lưới vô hình canh giữ thày, không cho thày rời khỏi Phát Diệm.

 

     + Cuộc trốn khỏi dòng Châu Sơn.

     Một buổi chiều, thày Quynh làm vẻ tản bộ ra dạo chơi bến sông. Thấy không có người theo rõi, thày tìm một thuyền công giáo để làm quen, chủ thuyền là người Trà Cổ. Biết thuyền đó đêm nay đi Hải Phòng, thày đã trình bày hết sự tình với chủ thuyền và xin đi nhờ. Chủ thuyền hơi e ngại nên hẹn thày: đêm nay thày đi bộ đến Kim Đài, 4 giờ sáng thuyền sẽ đón thày ở đấy để đi Hải Phòng. Thuyền sẽ treo đèn xanh, và thày lia đèn pin xuống sông làm tín hiệu để gặp nhau.

     Cuộc trốn chạy khỏi dòng Châu Sơn của thày Quynh cũng na ná như các cuộc vượt biên của thuyền nhân Việt ở thập niên 80 sau này. Thuyền đã đến bến Hải Phòng bình an. Thày tìm vào nhà thờ Chính Tòa, xin gặp Đức Giám mục Lễ, nhưng ngài không tiếp. Chỉ cho thày Quynh ăn một bữa và ngủ một đêm, sớm mai buộc thày phải rời khỏi nhà chung Hải Phòng.

     4 giờ sáng, thày Quynh ra Ga xe lửa để về Hà Nội. Hiềm một nỗi, thày không có tiền mua vé, đành liều đi lậu vé vậy. Thày cũng khá tinh ranh nên thoát được sự kiểm soát vé dễ dàng.

 

     + Lánh nạn tại dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà.

     Đến Hà Nội, thày Quynh không dám vào nhà chung ngay. Thày tìm đến  nhà một bạn cũ là bác sĩ Bách. Đợi tối khuya, thày mới dám vào nhà chung. Cố Huy Bề trên Đại Chủng  viện gặp thày thì vừa mừng vừa lo. Cố cho biết: Chiều nay mật thám Tây đang dò tìm thày. Cha bắt thày phải ẩn mình ở trên gác không được xuống. Thày đã phải sống cấm cố như thế ba tháng trời trên gác chủng viện. Rồi thày đến lánh nạn tại dòng Chúa Cứu Thế Thái Hà, và tiếp tục tự học.

     Ở đây, thày Quynh cũng có dịp tìm hiểu linh đạo Dòng do thánh Anphongsô sáng lập. Khác với dòng Châu Sơn - tinh thần đan tu khép kín, dòng Chúa Cứu Thế có xu hướng nhập thế, gần với ý nguyện của thày Quynh hơn. Tuy nhiên Dòng cũng không có sức hút thày ở lại.

     Tháng 11/1946, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Hải Phòng. Một tháng sau, Toàn Quốc kháng chiến, quân Cách mạng rút vào chiến khu vùng rừng núi. Còn Hải Phòng, Hà nội, Nam Định,Bùi Chu…là vùng Pháp chiếm đóng. 

     Năm 1947, Đại chủng viện thánh Giuse Hà nội có điều kiện mở cửa khai giảng. Thày Quynh được cha Giám đốc gọi về học một năm nữa là hết toàn bộ chương trình. Thực ra năm học này là để kiểm tra kiến thức tự học của thày, chứ thày cũng chẳng phải học thêm gì nữa. Thày thấy giáo trình học ở chủng viện khi đó nhiều điểm đã cũ kĩ lỗi thời. Các giáo sư thuyết giảng gần như thuộc lòng, chẳng gợi mở được một suy tư gì mới. Thày đã trình với cha Giám đốc:

     -  Hay cha con đi du học nước ngoài?

     -  Cái đó là quyền Giám mục. Thày không có quyền.

     -  Nhưng Đức cha Thịnh vừa qua đời rồi, Hà Nội đang khuyết Giám mục. Nếu con tự kiếm được tiền thì có đi được không ạ ?

     -  Ồ, được lắm!

     Thế là thày Quynh mượn luôn một phòng chủng viện còn dư để chiêu sinh dạy học.

 

13. CHUYỆN MỞ LỚP DẠY HỌC   (1949)

     Hồi đó vì là thời kháng chiến (1947 – 1948) loạn lạc, người dân khi tản cư, lúc hồi cư, học sinh bị gián đoạn học hành nên nhiều cô cậu đã lớn tuổi mà còn học ở lớp thấp. Thày Quynh mở lớp đào tạo cấp tốc, bảo đảm dạy 3 tháng xong một lớp. Họ đã đổ xô vào ghi tên nhập học. Nhất là trường công giáo xưa nay vốn có uy tín với giới phụ huynh, giáo cũng như lương.

     Để bảo đảm chất lượng học có hiệu quả, học sinh nhập học cũng phải sơ tuyển. Xét thấy cô cậu nào quá dốt, nhất là không có tinh thần hiếu học, thày Quynh không nhận dạy.

     Sáng một lớp 60 học sinh, chiều một lớp 60 học sinh. Ai ghi tên chậm, quá số 60 không nhận nữa. Học phí 60 đ / tháng. Vị chi mỗi tháng : 60đ x 60 x 2 = 7200đ. (Thời bấy giờ số tiền này là khá to, có thể mua được 9 xe đạp Peugeot Pháp, mà nhà nào có được một cái xe này đã là loại sang).

     Thày Quynh mở lớp học cấp tốc liền một mạch 9 tháng trời. Các học sinh học đủ thời gian ở đây đều lên 3 lớp 100%. Như vậy, thày Quynh qua việc mở lớp dạy học đã kiếm được số tiền: 7200đ x 9 = 64.800đ.

     Từ đây, thày hoàn toàn lo cuộc sống tự lập. Không có cha nào đỡ đầu nữa.

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi