Về cha già Quynh

Cha Quynh, con người, sự kiện giai thoại, c.2, p.2

Ngày đăng:25-05-2017 |1:11 PM | 1067 Lượt xem

CHƯƠNG HAI

TỪ BIỆT GIA ĐÌNH – TRÔI NỔI ĐỜI HỌC SINH

 (phần hai)

8. ƠN GỌI ĐI TU (1944)

Chàng thanh niên 18 tuổi Phạm Hân Quynh sau khi thi xong tú tài toàn phần tại Huế thì cha đỡ đầu đã qua đời. Từ đây chàng bắt đầu sống cuộc đời hoàn toàn tự lập. Chàng đã về Hà Nội và quyết định đi tu trọn đời.

Con đường đi tu của chàng không do cha mẹ định hướng, sắp xếp, cũng không bởi tác động của bạn bè hay một cá nhân nào. Ngay cả hai cố Tây đỡ đầu cho chàng ăn học suốt 8 năm cũng không hề có kèm điều kiện nào. Giờ đây tự chàng quyết định hoàn toàn. Đấy là nói theo kiểu thế gian. Còn theo đức Tin thì đó là Ơn gọi,là sự Chúa chọn.

Chúa đã chọn chàng, đã rấm chàng từ khi còn thơ bé. Thử hỏi: Tại sao chàng lại thích đi lễ trong dòng kín Carmel? Tại sao chàng lại thành cậu giúp lễ? Tại sao ông cha Bỉ lại yêu chàng và cho chàng suất học bổng đặc biệt? Rồi từ cái vả nẩy đom đóm mắt của cố Cao, cố lại thành người cha đỡ đầu cho chàng 3 năm ăn học đầy tốn kém? Đối với chàng thì tất cả đều là ngẫu nhiên. Song đối với Thiên Chúa thì dù một sợi tóc trên đầu rơi xuống cũng không hề ngẫu nhiên đâu!

Sau này chắc nhiều người đã hỏi cha “Tại sao cha đi tu?”. Khi cha về làm linh mục Hải Phòng, chúng tôi cũng hỏi cha câu ấy. Và cha đã trả lời:

- Tôi thấy tình hình Giáo Hội còn rất lạc hậu và non nớt, lại đang đứng trước khúc quanh của lịch sử nên dễ bị phân hóa, lạc hướng và rơi vào viễn cảnh mờ mịt! Nói chung là rất nguy nan. Tôi muốn ghé vai chống đỡ…

- Xin cha nói rõ, cụ thể thêm chữ “nguy nan” là thế nào ạ?

- Nguy nan vì cách sống Đạo và giảng Đạo nhiều điểm đã lỗi thời, sai lệch rồi! Còn nguy nan về thời thế, về hoàn cảnh sống mới bất lợi nữa.

Đúng là Chúa đã chọn cha như khí cụ tình yêu của Ngài. Và Chúa đã sử dụng cha đúng lúc, đúng chỗ.

 

9. NHẬP CHỦNG VIỆN HÀ NỘI (1944)

Chủng viện là “vườn ươm trồng” riêng của Giáo Hội để nhằm đào tạo giáo sĩ tương lai. Việc tuyển chọn ứng sinh vào học chủng viện ở mỗi thời và mỗi nơi có những thể lệ khác nhau. Vào thời điểm năm 1944 ở Hà Nội, thể lệ vào chủng viện tương đối thoáng. Chàng thanh niên Phạm Hân Quynh đã được nhận nhập chủng viện một cách dễ dàng. Và từ đây, chàng được mọi người gọi là tu sĩ, là thày.

Lúc này là cuối thời Thế chiến 2, lịch sử thế giới cũng như Việt Nam đang có những biến động ác liệt. Hàng ngày ở Hà Nội, cứ nghe thấy tiếng còi báo động là mọi người lại vội vã chui xuống hầm trú ẩn để tránh máy bay Mỹ ném bom Nhật. Vì lẽ đó, chủng viện Hà Nội tạm thời chưa khai giảng được.

Đầu năm 1945, Nhật đảo chính Pháp. Chỉ qua một đêm, Nhật đã lật đổ ách thống trị Pháp tại Việt Nam. Thế là Việt Nam chấm dứt 80 năm thời Pháp thuộc, chuyển sang thời Nhật thuộc.

Giữa năm 1945, bên trời Âu, Phát xít Đức đầu hàng vì bị quân đồng minh tiêu diệt đến tận hang ổ Berlin. Còn vùng Á đông, ngày 14/8/1945, Nhật hoàng cũng xin đầu hàng vô điều kiện sau khi phải hứng chịu hai quả bom nguyên tử khủng khiếp tại Hirôshima và Nagazaki. Đây là thời cơ các nước Đông Nam Á lần lượt tuyên bố giành độc lập mà không mất một mũi tên viên đạn nào. Việt Nam cũng nằm trong bối cảnh lịch sử chung đó.

Thày Quynh có mặt ở Hà Nội trong những ngày biến động lịch sử cực kì to lớn này. Thày đã chứng kiến trang sử mới của Dân tộc và cả của Giáo Hội Việt Nam. Chỉ 5 ngày sau khi Nhật đầu hàng, ngày 19/8 Việt Nam khởi nghĩa và Cách mạng đã thành công. Toàn dân Việt ngỡ ngàng, choáng ngợp trong bầu khí đất nước độc lập. Mọi thành phần Giáo Hội đều tỏ lòng yêu nước, nhiệt tình ủng hộ nền độc lập non trẻ. Đương nhiên, chủng viện Hà Nội lúc này vẫn chưa thể trở lại hoạt động bình thường trước một chế độ mới.

 

10. HỒ CHỦ TỊCH ĐẾN NHÀ CHUNG HÀ NỘI VÀO NGÀY 2 THÁNG 9 NĂM 1945

Chỉ mươi ngày sau Cách Mạng Tháng Tám, Hồ Chủ tịch đã đến thăm Nhà chung Hà Nội. Lúc ấy thày Quynh và một số tu sĩ trẻ khác đang tất bật trang trí nhà thờ và trường Dũng Lạc. Đoàn xe ôtô của cụ Hồ đỗ ngay bên bậc thềm Nhà thờ Lớn, gần tượng đài Đức Mẹ. Rồi cụ Hồ cùng đoàn tuỳ tùng đi bộ phía bên trái nhà thờ tiến vào cổng Nhà chung.

Các tu sĩ trẻ đã nhận ra ngay cụ Hồ, mặc dù chưa được gặp cụ lần nào. Các thày mừng rỡ vây quanh cụ, hớn hở chào:

- Chúng cháu chào bác ạ!

Cụ Hồ nét mặt tươi vui niềm nở:

- Bác cũng chào các cháu! Các cháu đang làm chi mà giăng đèn hoa đẹp vậy?

Mấy thày ngập ngừng, chưa biết trả lời sao cho tế nhị. Một cán bộ trong đoàn cụ Hồ nhanh nhảu nói:

- Thưa bác, chắc là các tu sĩ đây đang trang trí đèn hoa chào mừng ngày Cách Mạng Tháng Tám thành công đấy ạ!

Mấy người dân ở mặt phố gần đấy tinh mắt, nhận ra cụ Hồ, cũng tuốn đến, đứng vây xung quanh vị lãnh tụ một cách trật tự.

Cụ Hồ mỉm cười hỏi lại các tu sĩ:

- Chú cán bộ đoán thế có đúng không, các cháu?

Mấy tu sĩ trẻ nhìn nhau ấp úng, càng thấy khó nói. Giả như chỉ cần gật đầu “vâng ạ” là xong, và còn làm đẹp lòng nhau, nhưng đó không phải là sự thật. Thày Quynh đành lựa lời đáp:

- Thưa bác, ngày chào mừng Cách Mạng Tháng Tám đã qua rồi ạ. Đây là chúng cháu trang trí mừng một ngày lễ sắp đến: Ngày Chúa nhật 2 tháng 9 là lễ kính Các Chân Phúc Tử Đạo Việt Nam – Ngày giỗ tổ của Giáo Hội Việt Nam chúng cháu.

Cụ Hồ nhíu mày suy nghĩ rất nhanh. Rồi gật gù nói:

- Tốt! Tốt! Bác sẽ làm cho ngày 2 tháng 9 này trở thành ngày Đại lễ của cả dân tộc Việt Nam. Thôi bác cháu ta cùng nhau vào Nhà chung thăm các vị giáo phẩm.

Mấy tu sĩ đã đón dẫn đoàn khách cao cấp vào phòng khách Tòa Giám mục. Tại đây, chủ khách tiếp đón nhau rất trang trọng và thân tình. Phía chủ: toàn các cha, các thày người Việt Nam. Đức cha Thịnh (Chaize), Cha Chính Huy (Vuillard) tránh mặt không ra tiếp khách là rất khôn ngoan tế nhị, để tránh một mặc cảm do lịch sử để lại.

Cụ Hồ chủ động nói lên niềm phấn khởi to lớn vì nước nhà đã thoát khỏi ách nô lệ của thực dân Pháp. Cụ kêu gọi mọi thành phần trong Giáo Hội hãy tin tưởng, hợp tác với Chính phủ cách mạng, đoàn kết toàn dân thành một khối vững mạnh. Như cụ Giám mục Lê Hữu Từ (chưa tấn phong), Cố vấn của tôi, ông Nguyễn Mạnh Hà, người giáo dân yêu nước, cụ Ngô Tử Hạ, vị nhân sĩ Công giáo, ở ngay phố Nhà Chung đây…Tất cả đều đi theo cách mạng…

Cụ Hồ còn đang say sưa nói, chợt có một người cán bộ của cụ bước đến bên cụ ghé tai nói nhỏ, nhưng mọi người ngồi đấy vẫn nghe được: “Thưa bác, có người nhà từ trong quê ra, muốn gặp bác”. Cụ Hồ nói với người cán bộ: “Ai là người nhà của tôi? Ai là anh em tôi?” Cụ đưa mắt nhìn mấy vị giáo phẩm, mấy người ngồi đấy rồi thân mật dang tay nói: “Đây là người nhà tôi, đây là anh em tôi. Ai nghe lời tôi nói, ai thực hiện mọi chủ trương đường lối của Chính phủ cách mạng thì đều là người nhà tôi cả.”

Đến đây, buổi thăm viếng kết thúc. Chủ khách chia tay nhau trong nét mặt hân hoan thân tình.

Sau này cha con chúng tôi có dịp nhắc đến câu chuyện trên. Chúng tôi xin cha một lời bình, cha từ chối, chỉ giải thích: Theo lịch phụng vụ thời ấy, ngày lễ kính Các Chân Phúc Tử Đạo Việt Nam là ngày Chúa nhật đầu Tháng Chín. Mà năm 1945 ngày lễ này rơi vào ngày mồng 2 tháng 9. Còn các năm khác ngày lễ có thể xê dịch sang ngày mồng 5, mồng 6, mồng 7… Vì thế, ngày Quốc Khánh không thể che lấp được.

Chúng tôi bình luận với cha về câu Kinh Thánh (Mt 12,47-50) mà cụ Hồ đã vận dụng khi đó, có lẽ là một kịch bản được dàn dựng sẵn. Cha Quynh chỉ cười. Một anh bạn trẻ khen:

- Cụ thuộc KINH THÁNH và vận dụng khéo đấy chứ!

Nhân nói về sự tích ngày 2 tháng 9, còn một chi tiết mới nữa: Theo Đức cha Trọng kể thì lễ tuyên bố độc lập tại vườn hoa Ba Đình là vào buổi chiều. Buổi sáng hôm ấy là lễ kính Các Chân Phúc Tử Đạo Việt Nam hồi 8 giờ tại Nhà thờ Lớn Hà Nội. Phái đoàn Chính phủ cách mạng đã đến dự lễ. Ông Võ Nguyên Giáp được mời lên cung thánh ngồi vào chiếc ghế tựa lớn bọc nhung mà quan Toàn Quyền hay vị thượng khách nào đó mới được ngồi. Khi bước lên cung thánh, ông Giáp tỏ ra rất thành thạo nghi thức Công giáo: đã cúi mình bái sâu trước bàn thờ, rồi quay sang phía ghế Tòa Giám mục chào Đức cha Thịnh, sau cùng chào hai hàng ghế các cha ngồi dự lễ trên cung thánh (hồi ấy chưa có lễ đồng tế).

Để đáp lại Thánh lễ ban sáng ngày 2/9 tốt đẹp quy tụ Đạo đời, Đức cha Thịnh cho phép các thày chủng viện ban chiều mặc áo chùng thâm đi dự lễ Độc lập tại vườn hoa Ba Đình. Đoàn có 130 thày, được ưu tiên đứng dưới chân lễ đài (Hồi kí của Đức cha Lê Đắc Trọng tập II, trang 20).

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi