Về cha già Quynh

Cha Quynh, con người, sự kiện giai thoại, c. 2, p. 1

Ngày đăng:25-04-2017 |12:54 PM | 1002 Lượt xem

CHƯƠNG HAI

TỪ BIỆT GIA ĐÌNH – TRÔI NỔI ĐỜI HỌC SINH

 (phần một)

5.  RA TỈNH NAM ĐỊNH HỌC (1935 – 1940)

     Nhờ có xuất học bổng trời cho, cậu Quynh đã được cha người Bỉ gửi ra nhà xứ Nam Định học. Thế là từ năm lên 9 tuổi, cậu đã từ biệt gia đình, từ biệt quê hương Trì Chính để sống trôi nổi đời học sinh.

     Khoảng 5 năm học ở Nam Định, cậu Quynh đều được xếp vào loại học sinh giỏi của Tỉnh. Cha xứ Nam Định: cố Cao, tên Tây là Vacquier, rất tự hào về cậu. Đi đâu cha cũng khoe là có thằng cậu mới 13 – 14 tuổi nhưng học rất giỏi. Vì thế có nhiều phụ huynh mang con em vào nhà xứ xin cha nói với cậu kèm học thêm cho con em họ. Cố Cao còn nhờ cậu Quynh tập hát Thánh ca cho Ca đoàn Nam Định gồm cả Ta và Tây Đầm nữa.

     Thời gian ở Nam Định, cậu Quynh có mấy mẩu chuyện lí thú, và cũng là mấy biến cố, mấy kỉ niệm sâu sắc không bao giờ quên.

Chuyện hai viên bi

     Năm đầu tiên ở Nam Định, cậu Quynh mới có chín mười tuổi, đã xảy ra một chuyện như sau: Chiều hôm ấy, cố Cao nói với cậu: Lát nữa có cha khách đến dâng lễ. Các con bảo nhau chuẩn bị giúp lễ cho chu đáo. Cha này hơi hách đấy! Lôi thôi là ăn bạt tai ngay. Cậu Quynh “vâng ạ” ngoan ngoãn rồi đi gọi một cậu nữa đến mở cửa buồng áo, chuẩn bị đồ lễ. Mọi khi các cậu thường sát giờ lễ mới đến. Lần này nghe cha xứ cảnh báo nên đến sớm hơn. Đồ lễ đã chuẩn bị xong cả. Nhìn đồng hồ, thời gian vẫn còn sớm. Các cậu không biết làm gì, liền chơi bi với nhau.

     Cả hai cậu đều chơi bi rất diệu nghệ. Những phát bắn rê ngang, bắn sượt đầu rất chuẩn xác. Các cậu đang say sưa chơi, không ngờ cha khách đã đến. Cha lặng lẽ không nói một câu, chỉ cúi xuống thu hai viên bi bỏ túi, rồi vào mặc áo lễ. Hai cậu cũng vội mặc áo giúp, ra châm nến bàn thờ, bật đèn cung thánh. Thánh lễ bắt đầu, như không có chuyện gì xảy ra.

     Thế nhưng đến phần phụng vụ Thánh Thể, khi cha chủ sự đưa chén thánh ra để đón nhận của lễ là rượu và nước từ tay các cậu giúp thì cậu Quynh không đưa rượu. Lại nằng nặc đòi “trả bi đã! trả bi đã!” Cha khách trừng mắt trấn áp. Cậu Quynh vẫn không chịu trao rượu lễ. Đến nước này sợ ê mặt với giáo dân đang dự lễ, cha chủ sự đành móc hai viên bi ra trả cho xong chuyện. Và thánh lễ lại tiếp diễn như không có sự cố gì.

                                              ***

     Câu chuyện trên đây tôi được nghe cha cố Antôn Hiệu kể đã hơn hai mươi năm rồi. Lúc ấy tôi hỏi cha: “Còn sau đó thì thế nào nữa ạ?” Cha Hiệu bảo tôi: “Chỉ có thế là hết. Mất bi rồi dùng mưu lấy lại được bi là xong chuyện. Còn anh thấy chưa hết thì anh cứ…thêm vào!”

     Mấy chục năm rồi, tôi thấy mẩu chuyện này vẫn còn thiếu một hồi sau. Theo tôi, mới chỉ là mẩu chuyện ngồ ngộ, vui vui, cái sai, cái đúng chưa có sức thuyết phục rõ ràng. Đã đôi lần tôi trực tiếp hỏi cha già, nhưng đều không đúng lúc nên bị cha coi là lẩm cẩm, gạt đi. Tuy nhiên, nhiều giáo dân Tiên Lãng lại đã được nghe cha kể chuyện này. Song họ thuật lại cho tôi thì còn lõm bõm hơn cha Hiệu kể. Mãi gần đây tôi mới được một cô giáo dạy văn, và cũng là giáo lý viên kể cho nghe tiếp đoạn sau:

     Lễ xong. Vừa vào đến buồng áo, mặt cha khách đã tím lại, giọng hầm hầm: “Xếp dọn xong đồ lễ, biết điều lên ngay phòng khách cho tôi gặp. Táo tợn lếu láo đến thế là cùng. Nếu không lên thì đừng hòng ở đây nữa. Chỉ có về nhà mà xua gà”. Nói đoạn, cha khách ra khỏi buồng áo.

     Cậu giúp lễ kia sợ tái mặt, oán trách cậu Quynh. Cậu Quynh bảo việc tớ làm tớ chịu hết, một mình tớ lên là đủ. Cậu đưa cho tớ quyển Phúc âm! Cậu kia ngơ ngác nói: “Phải tìm cái mo, hay tấm bìa cứng mà lót vào trong quần để đỡ đòn, chứ quyển sách bé thế này thì làm gì được!”. Cậu Quynh không nói gì chỉ lật lật tìm một trang sách, rồi trao lại sách cho cậu kia cất vào tủ. Ra khỏi buồng áo, cậu Quynh còn bình tĩnh nói với bạn: “Cứ yên trí, Lời Chúa sẽ cứu tớ không phải ăn đòn như cậu tưởng đâu!”. Nghe nói vậy, cậu kia ngẩn người, không sao hiểu nổi.

     Đến phòng khách, cậu Quynh cúi đầu chào cha. Cha xẵng giọng hỏi:

     -  Còn thằng nữa đâu?

     -  Dạ. Sự việc chỉ có mình con làm, bạn kia không can dự gì  nên không có mặt ạ!

     -  Hai thằng cùng mắc tội chơi bi, sao lại nói không can dự gì?

     -  Thưa cha, chơi bi là có tội ạ?

     -  Thôi, không nói nhiều! Bây giờ mi đã biết tội của mi chưa? Dám coi Thánh lễ không bằng viên bi. Coi thường Thánh lễ là coi thường sự hiện diện của Chúa Giêsu Kitô, mi có biết không?

     - Thưa cha con không coi thường Thánh lễ, nhưng Chúa Giêsu dạy có điều còn trọng hơn Thánh lễ ạ.

     -  Láo toét, không lí sự cùn nữa, mất thì giờ. Ta không hiểu sao mà cố Cao lại khen mi là rất giỏi giang thông minh. Giờ mi nói đi! Tội của mi đáng nhận hình phạt nào cho cân xứng. Một là nằm xuống chịu 20 roi để nhớ đời, hai là ta nói với cố Cao đuổi mi về Phát Diệm, không cho học ở Nam Định nữa.

     -  Thưa cha, xin cha cứ bình tĩnh ngồi xuống đã, đừng lăm lăm cầm cái roi như vậy. Con đã lên gặp cha thì con không bỏ chạy đâu. Nhưng quả thực, con chưa biết con có tội gì.

     -  Tội tày đình là thế mà vẫn còn cãi à?

     -  Thưa cha, con không cãi mà con nghĩ là con đã làm đúng Lời Chúa dạy.

     -  Chúa nào dạy thế! Được, ta bình tĩnh để nghe mi nói. Nếu mi dẫn ra được ở sách nào, đoạn nào, Chúa đã dạy mi là đòi được bi thì mới trao rượu cho ta dâng lễ, ta sẽ tha cho mi, bằng không, ta sẽ tăng mức phạt lên 30 roi về tội cố tình chống cãi. Mi có bằng lòng không?

     -  Vâng, cha con mình thỏa thuận như thế nhá! Giờ xin cha giở sách Phúc âm Matthêu phần đầu, ngay sau bài giảng trên núi một quãng…

     -  Đoạn mấy? Câu mấy? Nói mau! Không phải vòng vo dài dòng nữa.

     -  Vâng, con không dài dòng mà chỉ muốn hướng dẫn cha tra sách cho nhanh xem con nói có đúng không thôi. Matthêu đoạn 5 câu 23 đến 24 Chúa đã dạy: “Nếu khi anh em sắp dâng lễ vật trên bàn thờ mà còn có chuyện bất bình với ai, thì hãy để của lễ lại đó. Làm hòa xong rồi hãy dâng lễ vật”. Con là người dâng của lễ trên bàn thờ, con đã làm đúng như thế, không sai một li.

     Ông cha khách trợn mắt ngạc nhiên về sự thuộc Kinh Thánh và vận dụng rất thông minh của cậu Quynh. Ông đã xẹp cơn thịnh nộ. Tuy vậy, ông vẫn còn giữ thế thượng phong:

     - Được ta giữ lời hứa, tha tội cho cậu. Nghĩa là cậu không phải vô tội đâu. Nghe ta nói đây: Tội thứ nhất chơi bi trong lúc ấy là sai. Cậu giúp lễ là người dâng lễ vật, đôi tay phải sạch sẽ tinh khiết. Bàn tay cứ xoè ra úp xuống đất là mất vệ sinh. Tội thứ hai, viên bi là chuyện nhỏ, làm sao lại bất bình đến mức phải dừng của lễ để đòi bi? Cậu vận dụng Lời Chúa mới đúng có một vế thôi. Cậu tưởng đòi được bi là hòa, là xong à? Chỉ xong với các cậu thôi, còn với ta thì lại bắt đầu bất bình, căm tức, chia trí suốt cả ván lễ!

     - Thưa cha, con xin nhận lỗi với cha về tội thứ nhất. Còn tội thứ hai làm cha căm tức, chia trí thì quả con không ngờ đến. Con cứ nghĩ khi dâng lễ, cha đã nâng tâm hồn lên với Chúa, chấp gì đến đứa con nít đòi bi.

     - Phải như con nói mới đúng, nhưng ta còn tự ái nóng nẩy, chưa đạt được đến tầm mức ấy. Thôi, giờ thì cha con mình làm hòa, cùng quyết tâm sửa chữa bản thân. Con có còn muốn nói với ta điều gì không?

     - Con cám ơn cha. Hôm nay cha đã làm con lớn lên… Nếu cha cho phép, con cũng xin góp với cha một điều nữa ạ. À mà điều ấy cha cũng vừa tự nhận ra rồi!

     -  Được con cứ mạnh dạn nói rõ thêm đi!

     -  Con …con nghe cha nổi tiếng nóng hách. Chúa Giêsu là vị mục tử rất hiền lành và khiêm nhường. Chúa cũng cầm cái roi, cái gậy nhưng không phải để vụt chiên, mà chỉ để bảo vệ đàn chiên khỏi sói rừng mà thôi.

     - Ta hiểu ý con rồi. Là linh mục hãy học mục tử Giêsu. Đúng không? Giờ thì ta cũng nói một lời giống con: Ta cám ơn con. Hôm nay con đã làm ta lớn lên.

     Rồi hai cha con ôm nhau. Cha khẽ vỗ vào vai con và thì thầm: Hòa nhé! Phải lớn lên nhé!

                                           ***

     Nghe xong Chuyện hai viên bihồi sau vừa kể trên, tôi nói với cô giáo dạy văn:

     Tôi cũng cám ơn cô vì cô đã kể cho tôi nghe một mẩu chuyện rất lí thú, cảm động, và đã làm cho tôi…thấy mình lớn lên.

 

           Phụ trách HƯỚNG ĐẠO SINH

     Lúc ấy, phong trào HƯỚNG ĐẠO SINH mới du nhập vào Việt Nam chưa lâu, đang thu hút nhiều thanh thiếu niên, cố Cao đã trao quyền cho cậu Quynh thành lập và phụ trách một đội tại địa bàn Nam Định. Cậu Quynh vốn có tính năng động, tháo vát nên rất thích hợp với việc phụ trách tổ chức đó.

     Vì lí do chiến tranh, và thời cuộc chính trị, HƯỚNG ĐẠO SINH Việt Nam đã bị đình chỉ hoạt động tại Miền Bắc từ năm 1954, và rồi toàn quốc vào năm 1975. Cho nên, những thế hệ trẻ Việt Nam sinh từ năm 1970 trở về sau có thể ít biết về tổ chức này.

     Xin kể sơ qua đôi nét lịch sử HƯỚNG ĐẠO SINH Việt Nam: Đoàn thể này đã được thành lập vào năm 1930. Hai người sáng lập là Trần Văn Khắc và Hoàng Đạo Thúy. Phong trào khởi đầu được hình thành tại Hà Nội, rồi mau chóng lan ra Hải Phòng và Nam Định. Sau đó lan rộng khắp toàn quốc, từ Bắc chí Nam.

     Đây vốn là một tổ chức Phong trào Hướng đạo Thế giới (World Organization of the Scout Movement). Mục đích là giáo dục thanh thiếu niên những kĩ năng sống, và ý thức công dân; bổ túc cho giáo dục gia đình và nhà trường, rèn luyện tác phong tháo vát, thích nghi với mọi hoàn cảnh, biết trọng danh dự và góp phần hữu ích cho xã hội, cho Đất Nước. HƯỚNG ĐẠO SINH Việt Nam được thành lập cũng theo những mục đích chung đó.

     Buổi ban đầu chưa có tên là HƯỚNG ĐẠO SINH. Cứ gọi theo tên Tây là Scout (Xì- cút), rồi tên Ta là Đồng Tử Quân. Đến năm 1933, Hoàng Đạo Thúy mới đổi tên gọi là HƯỚNG ĐẠO SINH, và chọn đồng phục áo sơ mi ngắn tay mầu nâu, quần soóc (cộc) mầu xanh, và mũ rộng vành có dây quai.

     Tên gọi HƯỚNG ĐẠO không có nghĩa là dạy Đạo, không liên quan đến một tôn giáo nào. Hầu hết các đơn vị hướng đạo không phân biệt tôn giáo của đội viên. Vì thế, đội HƯỚNG ĐẠO SINH   như một thanh nam châm đã thu hút rất đông những nhà trí thức tương lai như Tạ Quang Bửu,Trần Duy Hưng, Lưu Hữu Phước, TônThất Tùng…Các ông này về sau đã trở thành những nhân vật tên tuổi trong chính trường, cũng như trong lĩnh vực văn hóa, khoa học của Việt Nam.

     Cũng vì phụ trách HƯỚNG ĐẠO SINH, cậu Quynh đã biết những ông này. Năm 1955, Hà Nội vừa tiếp quản, Bác sĩ Trần Duy Hưng làm chủ tịch thành phố Thủ Đô, biết tin cha Quynh là linh mục đang ở Hà Nội, đã mời cha đến nhà riêng gặp mặt, anh em hàn huyên ôn lại thời  HƯỚNG ĐẠO SINH hai mươi năm về trước.

 

6.  CHA ĐỠ ĐẦU: CỐ CAO (VACQUIER) 1940 

     Chúng tôi nghĩ: muốn đi tu thì phải có cha đỡ đầu. Cha đỡ đầu là linh mục bảo lãnh cho một người đi tu. Và người đi tu đó nhận mình là con của cha đã bảo lãnh mình, hay còn  gọi là cha đỡ đầu mình. Trường hợp cậu Quynh thì lại không phải như vậy. Không biết từ đâu,người ta coi cố Cao là cha đỡ đầu của cậu.Chúng tôi đã có lần hỏi Cha Quynh:

     - Thưa cha, cha chọn cố Cao hay cố Cao chọn cha.?

     - Chẳng ai chọn ai cả. Khi tôi đi tu thì không có ai đỡ đầu. Còn gọi cố Cao là cha đỡ đầu tôi thì cũng được.

     Câu chuyện là thế này, nghe đầy kịch tính và cảm động:

     Năm năm ra Nam Định học, cậu Quynh thấy mình nhàn quá. Học hành chẳng có gì vất vả. Cậu đã nhận dạy học thêm, kèm cặp một số học sinh lớp dưới cậu. Vì thế cậu đã kiếm được số tiền kha khá để trang bị cho nhu cầu học tập và sinh hoạt của mình. Cậu còn có tiền đi chơi đó đây, đi xem phim ở rạp nữa.

     Một hôm cậu Quynh bỗng bị cố Cao gọi lên phòng và bất ngờ vả cho một cái nẩy đom đóm mắt. Cậu đứng ngớ người ra, chẳng hiểu sao cả. Cố Cao mắng:

     - Cậu đã bôi tro trát trấu vào mặt tôi rồi! Vừa mới có mấy phụ huynh đến nói từ nay họ không cho con em họ vào học cậu nữa.

     Cậu Quynh vẫn đứng như trời trồng, im lặng, chẳng hiểu sự thể làm sao. Cố Cao nói tiếp:

     - Họ đã bắt gặp cậu đi xem cinê ở rạp. Họ cho rằng cậu đi tu mà như thế là quá bừa bãi, xấu xa. Họ không thể để một con  người có tài mà không có đức như cậu dạy con em họ.

     Giờ cậu Quynh mới vỡ lẽ, giọng buồn rầu, cậu phân trần:

     - Thưa cha, con đã đi tu đâu. Và con nghĩ: xem phim thì chẳng có gì là lỗi, là xấu. Người ta hiểu nhầm con…Nhưng con cũng xin lỗi cha vì con đã làm phiền lòng cha.

     -  Có hai vợ chồng người Pháp có uy tín, họ cũng tố cáo cậu với tôi. Bây giờ thì tôi rất xấu hổ vì cậu. Cậu bảo cậu chưa đi tu. Không ai tin được, cả tôi cũng không tin. Cậu được cha Bỉ đỡ đầu nuôi ăn học, cậu ăn ở nhà chung, làm việc ở nhà chung. Thế mà lại bảo không phải đi tu? Lạ thật! Thôi, số tiền cha đỡ đầu của cậu gửi tôi nuôi cậu ăn học hãy còn chỗ này đây. Tôi trả cho cậu. Cậu liệu thu xếp mà ra đi. Cậu không thể ở nhà xứ Nam Định với tôi được nữa rồi.

     Cậu Quynh choáng váng vì biến cố quá bất ngờ. Tuy vậy cậu vẫn bình tĩnh có ý kiến:

     - Thưa cha, cha đã đánh đuổi con thì con phải đi thôi! Nhưng còn số tiền cha trao cho con thì con không dám nhận đâu. Vì đó không phải là tiền của con.

     Cố Cao ngẫm nghĩ giây lát rồi nói:

     - Phải, cậu không cầm tiền cũng là đúng lẽ. Thôi cậu hãy về phòng nghỉ ngơi và thu xếp hành lí. Đợi tôi liên lạc với cha Bỉ rồi đầu giờ chiều, cậu sẽ lên gặp tôi nhận quyết định.

     Cậu Quynh về phòng, hành lí lúc nào cũng gọn ghẽ trong một vali, chẳng có chi phải thu dọn. Cậu ngả mình xuống giường thư giãn để lấy lại tinh thần. Cậu nhắm mắt, thì thầm với Chúa: “Chúa ơi! Con phó thác mọi sự đời con trong tay Chúa. Con chỉ xin Chúa gìn giữ con, đừng để con làm điều gì lỗi sai”.

     Đến đầu giờ chiều, cậu Quynh lên gặp cố Cao. Cậu thấy nét mặt cố đượm sự trầm tư, không còn vẻ giận dữ ban sáng nữa. Cố ôn tồn hỏi cậu:

     Ban sáng cha đánh con, bây giờ còn thấy đau không?

     - Thưa cha, không ạ.

     - Thế mà cha vẫn còn thấy đau đấy… Bởi vì cha đã đánh oan con…Đúng là con chưa hề có ý đi tu…Cha Bỉ gửi con ra đây ăn học chỉ vì yêu thương con chứ không định hướng hay áp đặt con đi tu. Cha Bỉ đã đỡ đầu con bằng việc làm chứ không bằng chức danh, không kèm theo điều kiện nào. Còn cha lầm, mấy năm nay cứ ngỡ con là tu sinh, giao cho con việc gì Nhà Chúa con cũng nhận cả, và hoàn thành rất tốt. Giờ thì con nghe cha quyết định đây: “Cha không đuổi con, nhưng gửi con vào Huế học lên cao hơn. Cha tiếp nối cha Bỉ bảo trợ con ăn học nội trú tại trường Providence. Khi nào con đỗ tú tài xong thì lại về đây với cha. Con bằng lòng chứ?”

     Đương nhiên là cậu Quynh rất mừng rỡ nhận lời. Ôi, chỉ trong một ngày mà họa – phúc đến với cậu đều bất ngờ và quá nhanh. Cậu như cánh chim non đang nhởn nhơ bay lượn giữa bầu trời quang đãng thì thình lình bị cơn dông ập tới quật rớt tả tơi thảm hại. Thế rồi từ sự thảm hại ấy lại là khởi đầu cho một chuyến bay cao hơn, xa hơn đến khoảng trời mới đầy hứa hẹn.

                                            ***

     Câu chuyện trên, chúng tôi đã có dịp kiểm chứng lại vào năm 1989, sau khi cha Quynh vừa có chuyến đi Tây về. Cha kể thêm:

     - Phải nói rằng ở cái tuổi tôi lúc ấy thì chẳng có ai đi xem chiếu bóng. Không phải họ coi chiếu bóng là xấu mà vì có đi xem cũng chẳng hiểu được. Hầu hết phim đều nói tiếng Pháp. Mà làm gì có thuyết minh và lồng tiếng Việt như bây giờ.

     - Thưa cha, việc xảy ra như vậy có làm ông cha Bỉ phiền lòng không ạ?

     - Không. Trái lại ông còn nói tốt về tôi với cố Cao, ông rất thông cảm với tôi. Hoàn toàn để tôi lựa chọn hướng vào đời. Ông cha Bỉ hiện vẫn còn sống, 92 tuổi rồi. Ông rất yêu Việt Nam. Biết tôi sang Pháp, vẫn cố đến gặp tôi. Ông ấy hỏi: “Hồi này ở Việt Nam có còn phân phối thịt mắm theo tem phiếu nữa không?” Tôi cười đáp:”Thôi rồi”. Ông ấy mừng thốt lên: “Thế thì đỡ khổ”

     Ông là một người cha rất đôn hậu và thánh thiện. Còn cố Cao, Một người cha đỡ đầu tiếp nối cha Bỉ cũng để lại dấu ấn sâu sắc trong đời tôi .Nghe nói, Cố đã qua đời năm 1943, khi tôi còn đang học tại Huế.

(Ghi chép năm 1989)

 

7. VÀO HUẾ HỌC TRƯỜNG PROVIDENCE (1940-1943)

     Mùa Thu năm 1940, Nhật đổ bộ vào Đông Dương. Việc giao thông đi lại trở nên rất khó khăn. Tuy rằng vẫn còn là thời Pháp thuộc, song Pháp tự biết mình yếu thế hơn Nhật nên đã nhượng bộ Nhật đủ điều. Các trạm đường giao thông và thuế quan đều do Nhật nắm giữ, kiểm soát.

     Cậu Quynh phải chật vật lắm mới vào được đến Huế. Cậu đã đến trường Providence, xuất trình giấy giới thiệu của cha Vacquier. Cậu nhanh chóng được đón nhận vào học, và ăn ở nội trú trong nhà trường.

     Hồi ấy, về phía công giáo chỉ có ba trường Trung học lớn danh tiếng là ở Hà Nội, Huế, và Sài Gòn. Các học sinh trong trường Providence phần nhiều là con nhà giàu, con em các quan chức; Ta có, Tây có, Giáo có, Lương có. Trang bị cơ sở học tương đối hiện đại, sinh hoạt ăn ở khá sang. Chắc là học phí cũng khá tốn kém. Nhưng cậu Quynh thì khỏi lo, cứ an tâm mà học.  Đặc biệt, nhà trường có một PHÒNG SÁCH lớn, nhiều đầu sách quí hiếm, ở ngoài không có. Các học sinh trong trường, phần nhiều học đã thấy căng, có lên phòng sách cũng chỉ là tìm đọc loại sách có nội dung nhẹ nhàng thư giãn, hoặc loại sách tham khảo hỗ trợ cho chương trình đang học mà thôi. Cậu Quynh thì lại khác, học hành thấy nhàn hạ, PHÒNG SÁCH mớilà kho kiến thức quí mà cậu say mê khám phá. Những đầu sách cậu tìm đọc thường là của các tác giả thần học đương đại, loại sách nằm đã lâu trong tủ, chẳng mấy ai rờ mó đến, vì nó khô khan và khó hiểu. Ấy vậy mà cậu Quynh đọc lại thấy hấp dẫn, càng đọc càng thấy tỉnh táo ra như uống cafê vậy. Qua sách, cậu đã lờ mờ nhận ra bộ mặt Giáo hội Phương Tây, và cả Giáo hội Việt Nam nữa: Những cái được, và chưa được, những cái trì trệ, lỗi thời cần sớm canh tân.

     Thấm thoát đã hết ba năm học. Mùa Hè năm 1943. Cậu Quynh học xong, và đi thi. Cậu có bằng Tú tài loại ưu tại Huế. Cha quản lí trường đã gọi cậu lên và trao cho số tiền 120.000đ, nói là tiền còn dư lại sau ba năm ăn học tại trường. (Thế mới biết là số tiền cố Cao chi cho cậu ăn học quá lớn). Lần này thì cậu Quynh nhận ngay chứ không từ chối như khoản tiền của cha Bỉ mà cố Cao đưa cậu ba năm về trước.

     Gian nan đường về.

     Lúc đi đã chật vật, ngày về còn gian nan gấp bội. Đường sắt, Nhật đã hoàn toàn chiếm dụng làm phương tiện vận tải quân sự. Trên đường quốc lộ từ Huế về Bắc vắng tanh, cả ngày mới gặp dăm ba chiếc ôtô chạy qua. Song đều không phải là xe khách. Có vẫy xin đi thì họ càng phóng nhanh hơn như thể gặp cướp. Thôi cậu Quynh đành quyết định đi bộ 600 km từ Huế về Nam Định vậy. Số tiền 120.000đ khá lớn. Để đề phòng bất trắc, cậu phải san mỏng yểm vào trong giầy và bít tất.

     Ngày đầu tiên đi được đến Đông Hà thì trời nhá nhem tối. Cậu Quynh vào một quán ăn, xem dáng bà chủ quán có vẻ là người tốt. Ăn xong, cậu thuê phòng nghỉ đêm. Có lẽ mấy năm ở HƯỚNG ĐẠO SINH đã rèn luyện cậu tác phong lanh lợi tháo vát, thích nghi với mọi hoàn cảnh sống. Dù mệt, cậu vẫn chưa ngủ ngay mà còn nằm nghe ngóng quan sát. Cậu thấy có vài tên xem ý gian, như đang muốn theo rõi cậu. Thế là tình hình không ổn rồi! Cậu khẽ nhỏm dậy, đi giầy bít tất cẩn thận, rồi lẻn cửa sau ra vườn. Qua một hàng giậu thưa, bên ngoài là bờ biển cát. Cậu đi ngược trở lại phía Huế. Cậu đoán quả không sai, mấy tên gian phi đã xô ra cổng sau tìm cậu. Nguy quá! Bãi cát không có chỗ ẩn nấp, cậu đành ôm hành lí ngồi thu lu bất động như thể tảng đá. Chúng lia đèn pin về hướng Bắc, nói với nhau: “Không thấy đâu cả…Nó vừa đi thôi…Đuổi mau là bắt được…”. Cậu Quynh thở phào vì vừa trải qua khoảnh khắc nín thở. Cậu lại lên đường vào thị trấn Đông Hà. Phần nhiều nhà đã cửa đóng then cài. Có một nhà, bên trong đang có tiếng đọc kinh. Cậu Quynh gọi cửa. Họ hỏi vọng ra: “Anh là ai?” Cậu nói: “Là con cha xứ Nam Định”. Họ đòi xem giấy. Cậu Quynh lấy giấy buộc vào hòn sỏi, rồi ném qua cổng vào cho họ xem. Xem xong, họ mở cổng cho vào nghỉ một đêm bình an.

     Sáng hôm sau, cậu Quynh lại lên đường tiếp tục cuộc đi. Lúc thì gặp trạm lính Nhật kiểm soát, lúc thì gặp máy bay Mĩ oanh tạc ném bom. Cuộc đi đầy phiêu lưu mạo hiểm và gian nan.  Cậu rút kinh nghiêm: không nghỉ đêm ở quán trọ nữa. mà tìm vào nghỉ nhờ một nhà xứ họ đạo ven đường. hoặc một nhà giáo dân.

     Cứ như thế, cậu Quynh đi bộ ròng rã 9 ngày thì về đến Nam Định. Lúc này cậu mới biết tin cố Cao không còn nữa! Lòng cậu trào dâng bao buồn đau và nỗi nhớ tiếc.

                                         ***

     Lại nói thêm về cố Cao: Cố Cao là người Pháp hơi nóng tính nhưng sống thánh thiện, không quan tâm đến chính tri, xã hội. Năm 1945, quân Nhật lăm le hất cẳng Pháp ở Đông Dương. Pháp vội phải gọi thêm quân trù bị người Pháp để bổ sung lực lượng. Các cố Tây dạy học ở trường chủng viện Xuân Bích đều phải nhập ngũ. Cố Cao cũng phải nhập ngũ với lon thiếu úy. Đó là bi kịch để đời Cố kết thúc ngắn ngủi và thảm thương. Cố đã bị Việt Minh thủ tiêu mất xác khi về nhà xứ Nam Định năm 1943.(Hồi kí Đức cha Lê Đắc Trọng tập I, trang 91. Và tập II trang 41)

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi