Tiếng lòng

Miséricorde - Lòng thương cảm

Ngày đăng:21-09-2017 |5:22 AM | 649 Lượt xem

Miséricorde - Lòng thương cảm

Có làm mẹ mới hiểu biết hơn và thương cha mẹ của mình thật nhiều hơn. Và có là người tội lỗi mới « thấy » được tình yêu cao đẹp, sâu nặng của Đức Giê-su dành cho tội nhân.

Không biết vì sao tôi đặc biệt yêu thích từ « Miséricorde » từ những ngày đầu tìm đến tham dự Thánh lễ ở Pháp, quê hương thứ hai của tôi. Một chút tìm hiểu và trình bày ngắn gọn, đơn giản về từ này :

Misericordia (tiếng La-tinh) - Miséricorde (tiếng Pháp) - Mercy (tiếng Anh)

Misericordia trong tiếng La-tinh được ghép bởi « miseria » và « cor », tạm dịch là « trái tim xúc động trước nỗi khổ của người khác ».

Tuy nhiên, trong Kinh Thánh « misericordia » được diễn đạt bằng nhiều từ ngữ với ý nghĩa khác nhau bằng tiếng Hip-ri và Hy-lạp:

a) Tiếng Hip-ri : có 2 từ chính : « rah’amim »tạm dịch là « cung lòng mẹ », « sự dịu dàng, âu yếm, yêu thương của người mẹ. Và « hesed » : tình thương bao hàm sự trung tín.

b) Tiếng Hy-lạp: « eleos » : lòng cảm thông, thương xót

Thật ra có rất nhiều điều để nói về ngữ nguyên học của từ « Misericordia » nhưng tôi chỉ muốn chia sẻ vài cảm nghĩ riêng về từ « Miséricorde » tiếng Pháp.

Ở đây, tôi yêu từ « Miséricorde » trước hết với ý nghĩa « sự thông cảm, lòng trắc ẩn, lòng thương »... (la compassion) với những đau khổ của người khác và mong muốn được đỡ đần, chia sẻ, an ủi ...những nỗi bất hạnh đó.

Không có sự hiểu, sự gần gũi, lòng cảm thông thì khó có thể yêu mến được. Có những thứ mà chỉ nhìn bằng mắt trần thì không thể « thấy », không thể « hiểu » và không thể « cảm » được. Antoine de Saint-Exupéry trong tác phẩm « Le Petit Prince » (Hoàng Tử Bé) viết : « ...On ne voit bien qu'avec le coeur. L'esentiel est invisible pour les yeux... ». Tạm dịch sát : « Ta chỉ nhìn rõ bằng trái tim. Điều cốt yếu không thể thấy bằng mắt trần. » Không có con tim nhạy cảm, không từng qua khổ đau, thử thách, thì khó mà thấy, mà đau, mà thương, mà chia sẻ được.

Đức Giê-su là hiện thân của lòng cảm thương, Người động lòng trắc ẩn khi thấy đám đông như đàn chiên lạc không ai chăn dắt (Mc 6,34). Người đau lòng khi biết đám đông đi theo Người đã ba ngày mà chưa có gì ăn (Mt 15,32). Người thương xót khi thấy đám tang con bà goá thành Naïm (Lc 7,13). Người mủi lòng trước những người bệnh tật kêu nài xin chữa lành : chẳng hạn người phong (Mc 1,40-42), người mù ở Giê-ri-khô (Mt 20,34). Người khóc thương trước cái chết của người bạn La-za-rô (Ga 11,35)… Con tim Đức Giê-su xao xuyến, thông cảm với những niềm đau, nỗi bất hạnh của con Người và mong muốn chúng ta cũng trở nên như thế : « Ta muốn lòng nhân chứ đâu cần lễ tế » (Mt 9,13).

Con tim tôi cũng đã thổn thức, xúc động với từ « miséricorde » trong đoạn Mt 9,12-13 này :

Đức Giê-su bày tỏ “lòng nhân” (la miséricorde) qua việc ăn uống và chia sẻ với những người tội lỗi (Mt 9,10). Thấy thế những người Pha-ri-sêu nói với các môn đệ của Người : « Sao Thầy các anh lại ăn uống với bọn thu thuế và quân tội lỗi như vậy? » (“Pourquoi votre maître mange-t-il avec les publicains et les pécheurs?”). Nghe nói thế Đức Giê-su mới nói với những người Pha-ri-sêu : “Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. Hãy về học cho biết ý nghĩa của câu này: Ta muốn lòng nhân (la miséricorde) chứ đâu cần lễ tế. Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi”.

(« Ce ne sont pas ceux qui se portent bien qui ont besoin de médecin, mais les malades. Allez, et apprenez ce que signifie: Je prends plaisir à la miséricorde, et non aux sacrifices. Car je ne suis pas venu appeler des justes, mais des pécheurs. »)

Có lẽ vì tôi nhiều tội lỗi, là kẻ đau ốm cả về thể xác lẫn tinh thần nên xúc cảm sâu sắc trước « lòng nhân » của Đức Giê-su ở đây. Đúng như Người nói « Người khoẻ mạnh không cần thầy thuốc, người đau ốm mới cần. » Ôi, sao trái tim của Đức Giê-su như trái tim của người mẹ (rah'amim: cung lòng mẹ, sự dịu dàng, yêu thương của người mẹ) ! Cho dù con cái của Người có sai lầm, hư đốn, bất trung... thì như một người mẹ, Người luôn dành cho con cái một tình thương vô hạn, vô lượng, vô giá, vô cùng tận... luôn bao dung, thứ tha và mong chờ đứa con lầm lạc trở về.

Tôi luôn cảm nhận được sự cảm thông, yêu thương, tha thứ, chở che, quan phòng... của Đức Giê-su bằng nhận thức của một người con lâu năm xa mẹ và của một người đã được diễm phúc làm mẹ. Có làm mẹ mới hiểu biết hơn và thương cha mẹ của mình thật nhiều hơn. Và có là người tội lỗi mới « thấy » được tình yêu cao đẹp, sâu nặng của Đức Giê-su dành cho tội nhân.

« Anh em hãy có lòng nhân từ, như Cha anh em là Đấng nhân từ. » (Lc 6,36) (« Soyez miséricordieux comme votre Père est miséricordieux. »)

Qua lời dạy đầy lòng nhân của Đức Giê-su, con yêu dấu của Cha,

Cha ơi, xin giúp con nên giống như Cha mỗi ngày…

 

Thérèse TB

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi