Sống đức tin

Vết thương trầm trọng nhất trần gian, Ngôi mộ trống

Ngày đăng:04-04-2018 |4:12 AM | 238 Lượt xem

Vết thương trầm trọng nhất trần gian

Ngôi mộ trống

Trong lịch sử thế giới, chỉ duy một ngôi mộ có tảng đá đóng niêm che kín cửa mồ và có lính được chỉ định đứng canh gác không cho người chết nằm trong đó chỗi dạy: Đó là ngôi mộ của Đức Kitô vào chiều ngày Thứ Sáu thánh. Còn có cảnh tượng nào buồn cười hơn là thấy những người lính đứng canh giữ một xác chết? Những những người lính gác đã được chuẩn bị, vì sợ người chết đứng dạy đi, sự im lặng phát lên tiếng nói, và Trái Tim bị đâm thâu lại mau chóng hồi phục. Họ nói Ngài đã chết; họ biết Ngài đã chết; họ muốn cho biết là Ngài không sống lại; ấy thế  mà họ lại phải canh chừng! Họ đã công khai gọi Ngài là kẻ lừa đảo. Nhưng, Ngài có phải lừa đảo không? Chẳng lẽ Ngài, kẻ lừa đảo để cho người ta tin là họ thắng, lại là người thắng trận chiến cho sự sống, sự thật và tình yêu? Họ nhớ là Ngài đã xác nhận Thân Thể của Ngài là Đền Thờ và trong ba ngày sau khi họ phá hủy đi, thì Ngài sẽ xây dựng lại. Họ cũng nhớ là Ngài đã so sánh chính mình với Jonah và nói rằng giống như Jonah ở trong bụng cá ba ngày, thì Ngài cũng ở trong lòng đất ba ngày sau đó sẽ sống lại. Sau ba ngày thì Abraham tìm lại con mình là Isaac, người đã được dùng để hiến tế, và trong ba ngày, cả nước Egyptô đã ở trong bóng tối; vào ngày thứ ba Thiên Chúa đã ngự đến trên núi Si-na-i. Bây giờ, một lần nữa, lại có sự quan tâm về ngày thứ ba. Bởi thế ngay buổi sáng sớm ngày thứ Bẩy, các trưởng tế và Luật sĩ đã bỏ ngày Sabbáth để đến trình với Philatô:

"Thưa ngài, chúng tôi nhớ tên bịp bợm ấy khi còn sống có nói: "Sau ba ngày, Ta sẽ trỗi dậy." Vậy xin quan lớn truyền canh mộ kỹ càng cho đến ngày thứ ba, kẻo môn đệ hắn đến lấy trộm xác rồi phao trong dân là hắn đã từ cõi chết trỗi dậy. Và như thế, chuyện bịp cuối cùng này sẽ còn tệ hại hơn chuyện trước." (Mt 27:63-64).

Lời yêu cầu của họ để có lính canh gác cho đến “ngày thứ ba” có liên quan nhiều đến những lời của Đức Kitô nói về việc sống lại của Ngài hơn là về việc lo sợ các môn đệ của ngài đến lấy trộm xác của Ngài đem đi rồi loan truyền là ngài đã biến mất giống như đã sống lại. Nhưng Philatô không hứng thú để tiếp họ, vì chính họ là căn cớ khiến ông phải cho đổ máu người vô tội. Ông đã điều tra và biết là Đức Kitô đã chết; ông sẽ không chiều theo cái ngớ ngẩn dùng quân lính của Caesar để canh gác cái xác chết của một người Do Thái. Philatô bèn bảo họ: “Các ngươi có lính đó, hãy đi mà canh gác theo như các ngươi có thể”(Mt 27:65).

Canh chừng để không có bạo động; đóng khóa lại để phòng ngừa trộm cắp. Cần phải đóng khóa, và những kẻ thù đã đóng khóa lại. Phải có canh chừng, và các kẻ thù đã làm việc canh chừng đó. Giấy chứng tử và sự sống lại phải được ký nhận bởi chính các kẻ thù. Những người dân ngoại đã bằng lòng nhận là Đức Kitô đã chết; những người Do thái đã chấp nhận qua pháp luật là Ngài đã chết.

Thế là họ ra đi canh giữ mồ, niêm phong tảng đá và cắt lính canh mồ. (Mt 27:66).

Hoàng thượng nằm trong tư thế có người canh gác. Một sự thật rất ngạc nhiên ở cái cảnh canh phòng đặc biệt này về một người chết đó là những kẻ thù ghét Chúa Kitô đã nghĩ đến sự sống lại của Ngài trong khi các người bạn của Ngài thì lại không nghĩ đến. Những người tin Ngài lại là những người hoài nghi; trong khi những người không tin thì lại bán tín bán nghi nên họ canh chừng. Những người theo Ngài lại đòi có những dấu chứng trước khi họ có thể tin nhận Ngài. Trong ba bối cảnh của màn kịch sống lại đã có một dấu của buồn thảm và không tin. Bối cảnh thứ nhất là Ma-đa-lê-na khóc lóc trên đường đi đến mồ từ tảng sáng mang theo dầu thơm, không phải là để chào đón Đấng Cứu Thế Sống Lại, nhưng là để xức dầu cho thân xác của Ngài.

Ma-đa-lê-na bên Mồ

Trong bóng sương mờ của sáng Chúa Nhật có vài người phụ nữ đã đi ra mồ. Việc các người phụ nữ mang theo dầu thơm chứng tỏ là họ đã không nghĩ đến sự sống lại. Đây là thái độ hơi kỳ lạ vì sau nhiều lần họ đã nghe Chúa đề cập đến cái chết và việc Ngài sẽ sống lại. Nhưng rõ là như vậy, các môn đệ và những người phụ nữ, bất cứ khi nào Ngài nói về cuộc Thương Khó của Ngài, họ dường như chỉ nghe và nhớ về cái chết của Ngài hơn là việc Ngài sống lại. Họ không hề nghĩ điều đó có thể xẩy ra; đó là điều qúa xa lạ đối với lối suy nghĩ của họ. Khi tảng đá đóng kín lấp ngôi mộ, không những Đức Kitô bị chôn vùi trong đó nhưng tất cả niềm hy vọng của họ cũng bị chôn vùi theo. Ý nghĩ duy nhất trong tâm trí của những người phụ nữ lúc đó là đem dầu thơm đến để xức cái xác chết của Đức Kitô - một việc làm phát sinh từ sự lo sợ và một tình yêu chưa có đức tin. Hai người trong họ, ít là, đã chứng kiến cảnh mai táng; bởi thế họ có một lo ngại thực tế:

"Ai sẽ lăn tảng đá ra khỏi cửa mộ giùm ta đây?  (Mk 16:3).

Đó là tiếng kêu của những tấm lòng yếu tin. Những người đàn ông lực lưỡng đã đóng kín cửa mồ bằng một tảng đá to ngăn chặn; lo lắng của họ là làm cách nào để đẩy tảng đá to lớn đó ra để họ có thể làm công việc từ ái của họ. Những người đàn ông đó sẽ không đến mộ cho đến lúc họ được triệu tập đến – các bà thật sự qúa kém lòng tin. Nhưng những người phụ nữ đã đến, họ đến trong u buồn nên họ đi tìm chút an ủi qua việc xức dầu cái xác chết của người thân. Thật là điều phản lịch sử để cho rằng những người phụ nữ này đã đang mong chờ Đức Kitô sống lại từ cõi chết. Sự sống lại là điều họ không hề tưởng nghĩ đến. Tâm trí họ không được tạo thành bởi loại chất liệu khiến cho những mong chờ như thế có thể tăng trưởng.

Nhưng khi họ đến gần, họ đã thấy tảng đá được đẩy khỏi cửa mồ. Trước khi họ đến nơi thì đã có động đất, và một Thiên thần của Chúa, đến từ trời cao, lăn tảng đá đó ra và ngồi trên đó: Diện mạo người như ánh sáng chớp, và y phục trắng như tuyết. Thấy người, lính canh khiếp sợ, run rẩy chết ngất đi (Mt 28:4).

Khi những người phụ nữ đến gần họ thấy tảng đá, tuy nặng và to lớn như thế, đã được lăn khỏi cửa mồ. Nhưng họ không nhận ra là thân xác của Ngài đã sống lại. Họ cho là có ai đó đã lấy xác của Ngài di chuyển đi nơi khác. Thay vì thấy xác chết của Ngài thì họ lại thấy một thiên thần, mặt sáng ngời và áo ngài trắng như tuyết nói với họ như được kể lại:

Vào trong mộ, các bà thấy một người thanh niên ngồi bên phải, mặc áo trắng; các bà hoảng sợ. Nhưng người thanh niên liền nói: "Đừng hoảng sợ! Các bà tìm Đức Giê-su Na-da-rét, Đấng bị đóng đinh chứ gì! Người đã trỗi dậy rồi, không còn đây nữa. Chỗ đã đặt Người đây này! Xin các bà về nói với môn đệ Người và ông Phê-rô rằng Người sẽ đến Ga-li-lê trước các ông. Ở đó, các ông sẽ được thấy Người như Người đã nói với các ông" (Mc 16:6-8).

Với thiên thần thì sự sống lại không phải là một kỳ lạ, nhưng cái chết của Ngài mới kỳ lạ. Với con người, thì cái chết của Ngài lại không là kỳ lạ, nhưng sự sống lại của Ngài mới là kỳ lạ. Điều là lẽ đương nhiên đối với thiên thần, bây giờ là chủ đề của lời công bố. Thiên thần là người canh giữ hơn là những kẻ thù đã được cắt cử canh gác ngôi mộ của Đấng Cứu Thế, một vệ binh không phải là lính của Philatô.

Những lời của thiên thần là Tin mừng đầu tiên được rao giảng sau sự sống lại, và đó cũng là lời nhắc lại cuộc Thương khó của Ngài, vì thiên thần đã nói về Ngài là “Giêsu Nazareth Người đã chịu đóng đinh.” Những lời này nói về nhân tính của Ngài, về sự khiêm hạ nơi cư trú, và cái chết ô nhục của Ngài; cả ba thứ, sự khiêm hạ, khinh thường và ô nhục được đem so với việc sống lại từ cõi chết của Ngài. Belem, Nazareth và Giêrusalem cả ba đều mang dấu tích về sự sống lại của Ngài.

Những lời của thiên thần: “Đây là nơi người ta đã để xác của Ngài,” đã xác nhận cái chết của Ngài là thật và là sự kiện toàn những lời tiên tri xưa. Thường thì bia mộ được ghi khắc: Hic Jacet hay “Nơi an nghỉ.” Sau đó là kèm theo tên của người chết và đôi dòng lưu nhớ về người qúa cố. Nhưng ngược lại ở đây thiên thần lại không viết nhưng bày tỏ một văn bia khác: “Ngài không còn ở đây.” Thiên thần bảo các bà hãy nhìn xem chỗ Người nằm, cho thấy ngôi mộ trống là dấu chứng đủ cho sự thật của sự sống lại. Họ được hướng dẫn mau lẹ tức thời để hiểu về sự sống lại. Trước kia một trinh nữ được nhận tin báo về việc sinh hạ của Con Thiên Chúa. Bây giờ một  phụ nữ người đã từng sa ngã lại được đón nhận tin của sự sống lại.

Những người thấy ngôi mộ trống được sai đi báo tin cho Phêrô người đã từng khuyên can Chúa né tránh Thập gía và đã ba lần chối không biết Ngài. Tội lỗi và sự chối bỏ đã không làm nghẹt tình yêu của Thiên Chúa. Dù có nghịch lại với tội càng to thì lòng tin càn kém; và dù là như thế lòng thống hối càng lớn bao nhiêu thì đức tin lại càng lớn hơn bấy nhiêu. Ngài đến với những con chiên lạc lõng chạy hổn hển trong hoang địa; chính những người thu thuế và gái điếm, những Phêrô chối đạo và những Phao-lô bách hại, họ là những lời khẩn nài thuyết phục nhất để tình thương được gởi đến. Với người được gọi là Đá và người đã khuyên can Chúa Kitô tránh né Thập gía, bây giờ thiên thần lại truyền cho những người phụ nữ đi báo tin, “Hãy đi nói với Phêrô.”    

Vinh dự riêng ủy thác cho Phêrô trong đời sống của tập thể lại được tiếp tục trong sự sống lại. Nhưng cho dù Phêrô được nhắc đến với các Tông Đồ mà ông là đầu, Chúa đã hiện ra riêng với Phêrô trước khi Ngài tỏ mình ra cho các môn đệ trên đường E-mau: Đây là điều rõ ràng từ sự thật là các môn đệ sau đó nói Ngài đã hiện ra với Phêrô. Tin vui về ơn Cứu Chuộc đã được ban cho một phụ nữ đã từng sa ngã và cho người môn đệ đã từng chối bỏ Ngài; nhưng cả hai đã ăn năn thống hối.

Maria Ma-đa-lê-na, người đã ở trong tối tăm lại tiến bước đi trước những người đồng hành với bà, nhận ra là tảng đá đã được lăn ra bên cửa mồ, và cửa mồ mở toang. Liếc nhìn vào thì thấy ngôi mồ trống trơn. Ý đầu tiên của bà là nghĩ đến các Tông đồ, Phêrô và Gioan, bà đã chạy đi trong phấn khởi. Theo luật Mai-sen thì người phụ nữ không được phép làm nhân chứng. Nhưng Maria đã không mang tin vui về sự phục sinh; bà đã không nghĩ đến sự phục sinh. Bà nghĩ là Ngài vẫn còn bị nằm trói trong sự chết, như lời bà nói với Phêrô và Gioan:

"Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu." (Gio 20:2).

Trong số tất cả các môn đệ và những người theo Chúa chỉ có năm người “trông chừng”: ba người phụ nữ và hai người đàn ông, giống như năm người khôn ngoan trong dụ ngôn đi đón Tân lang. Tất cả những người này đề không có sự nghi ngờ về việc phục sinh.

Trong nỗi vui mừng cả Phêrô và Gioan đã chạy nhanh ra ngôi mộ, bỏ cả Maria lại phía sau. Gioan đã chạy nhanh hơn và đến mộ trước. Khi Phêrô đến nơi, cả hai người bước vào trong mộ, nơi họ đã nhìn thấy các khăn vải liệm xác được bỏ lại cùng chiếc khăn che phủ đầu của Chúa Giêsu; nhưng chiếc khăn lại không để cùng chỗ với vải liệm xác mà được gấp xếp gọn lại. Điều đã xẩy ra được làm cách cẩn trọng lớp lang, không phải bởi kẻ trộm cũng chẳng phải bởi một người bạn. Xác của Ngài đã biến mất khỏi mộ; những khăn vải cuốn xác của Ngài được thấy gấp xếp lại. Nếu các môn đệ đã lấy trộm xác của Ngài mang đi, thì trong sự vội vã họ đã chẳng có giờ để tháo cởi và để khăn vải liệm lại. Đức Kitô đã phục sinh trút bỏ những thứ đó do quyền lực của Thiên Chúa nơi Ngài. Phêrô và Gioan  “Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Đức Giê-su phải trỗi dậy từ cõi chết. Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà (Gio 20:9).

Họ có sự thật và bằng chứng về sự Phục Sinh; nhưng họ chưa hiểu ra ý nghĩa đầy đủ của nó. Bây giờ Chúa Giêsu bắt đầu lần thứ nhất trong tất cả mười một lần hiện ra của Ngài được ghi lại giữa hai biến cố Phục Sinh và Lên Trời của Ngài: Đôi khi với các môn đệ, lúc khác là với năm trăm người cùng một lúc, và những khi khác là với mấy người phụ nữ. Lần hiện ra thứ nhất là với Maria Ma-đa-lê-na, người đã trở lại thăm mộ sau khi Phêrô và Gioan đã rời khỏi đó. Ý tưởng phục sinh như chưa đến trong suy nghĩ của bà, dù chính bà đã chỗi dạy khỏi cái mồ của bẩy thần dữ tội lỗi. Tìm thấy mộ trống, bà lại bật khóc nước mắt tuôn trào. Bà cúi mặt khi ánh bình minh chiếu xuống thảm cỏ đầy sương, bà thấy như có ai đứng gần cất tiếng hỏi:

Tại sao bà lại khóc? (Gio 20:13).

Bà đã khóc về mất mát, nhưng câu hỏi của Ngài đã cất đi cái thảm sầu của nước mắt bằng việc làm cho bà ngừng khóc. Bà nói:“Người ta đã lấy Chúa của tôi đi mất, và tôi không biết họ để Ngài ở đâu.” (Gio 20:14).

Không có sự sợ hãi khi thấy các thiên thần, vì cả thế giới có bùng cháy cũng chẳng lay chuyển được bà, nỗi buồn sầu đã làm chủ tâm hồn bà. Khi nói lời này, bà quay lại và thấy Chúa Giêsu đứng đó; và bà không biết đó là Ngài. Bà nghĩ là người làm vườn của ông Giuse A-ri-ma-thi-a. Nghĩ là người này có thể biết nơi họ cất xác của Chúa, bà qùi gối năn nỉ: "Thưa ông, nếu ông đã đem Người đi, thì xin nói cho tôi biết ông để Người ở đâu, tôi sẽ đem Người về."(Gio 20:15).

Tội nghiệp cho Ma-da-lê-na! Đã mệt mỏi trong ngày thứ Sáu, rã rời ngày thứ Bẩy, với cuộc sống bấp bênh bao quanh và sức lực yếu đuối như sợi chỉ, thế mà bà vẫn còn muốn đến để “lấy xác của Ngài.” Ba lần bà đã nói đến Ngài mà không cần gọi rõ tên của Ngài. Tình yêu đối với Ngài nơi bà thật mạnh đến độ cho thấy nói như thế có nghĩa là không còn ai khác nữa hơn là Ngài.

Chúa Giêsu nói với bà: “Maria.” (Gio 20:15)

Giọng nói đó đã làm giật mình hơn tiếng gầm của sấm sét. Bà đã từng nghe Chúa Giêsu nói là Ngài gọi chiên của Ngài bằng chính tên của nó. Và lúc này chính Ngài, Người đã tư hữu hóa tất cả các tội lỗi, sầu khổ và nước mắt trong thế gian và khắc ghi nơi từng tâm hồn với tình yêu riêng tư, cá biệt, và sáng suốt, bà quay lại, nhìn thấy những dấu đinh đỏ tỏa sáng trên tay và chân của Ngài, đã thốt lên một lời:

“Rabbuni!” (Gio 20:16)

Tiếng Do Thái nghĩa là “Thầy!” Chúa Kitô đã cất tiếng gọi “Maria” và tất cả trời cao được gói gọn trong đó. Sau cái tăm tối nửa đêm của trí khôn, đã có được ánh sáng lộng lẫy này; sau nhiều giờ trong vô vọng, thì có niềm hy vọng này; sau cuộc tìm kiếm, thì đây là cái khám phá ra; sau sự mất mát, thì đây là cái tìm thấy. Ma-đa-lê-na đã được chuẩn bị chỉ để được trào dâng dòng lệ tôn kính bên ngôi mộ; cái mà bà đã không được chuẩn bị là được thấy Ngài đi tản bộ giữa lúc ban mai.

Chỉ có sự tinh tuyền và sạch tội mới có thể chào đón tất cả sự thánh thiện của Con Thiên Chúa nơi trần gian; vì thế mà Đức Trinh Nữ Maria đã gặp Ngài trước ngưỡng cửa trần gian ở Beth-lem. Nhưng chỉ một người tội lỗi đã cải thiện, người đã chỗi dạy khỏi ngôi mộ của tội lỗi để đến với sự sống mới trong Thiên Chúa, mới có thể xứng hợp để hiểu được sự chiến thắng tội lỗi. Để vinh danh cái vinh dự của nữ giới thì phải muôn đời nhìn nhận: Một phụ nữ đã gần gũi nhất với cây Thánh Gía trong Ngày Thứ Sáu Thánh, và trước tiên bên ngôi mộ của buổi sáng Phục Sinh.

Maria Ma-đa-lê-na đã luôn từng ở gần bên chân Chúa. Bà đã ở đó để xức dầu an táng cho Ngài; bà đã đứng dưới chân Thập gía; bây giờ trong nỗi vui mừng trông thấy Thầy, bà đã phủ phục ôm lấy chân của Ngài. Nhưng Ngài nói với bà trong cách ngăn cản:

Đừng chạm đến Thầy vì Thầy chưa về cùng Cha Thầy (Gio 20:17).

Những biểu hiện yêu thương của bà dành cho Ngài vẫn còn như là đối với một Con Người hơn là đối với Con Thiên Chúa. Do đó Ngài đã ngăn cản bà đừng động đến Ngài. Thánh Phao-lô có thể cũng đã dạy cho giáo đoàn Cô-rin-tô và Co-lô-sê như vậy:

Và cho dù chúng tôi đã được biết Đức Ki-tô theo quan điểm loài người, thì giờ đây chúng tôi không còn biết Người như vậy nữa.(II Cor 5:16).

Anh em hãy hướng lòng trí về những gì thuộc thượng giới, chứ đừng chú tâm vào những gì thuộc hạ giới (Colose 3:2).

Nước mắt của bà, Ngài nói, được lau sạch không phải vì bà đã được gặp lại Ngài, nhưng vì Ngài là Chúa của Trời cao. Khi Ngài lên ngự bên hữu Chúa Cha, đó là  biểu hiện cho quyền lực của Chúa Cha; khi Ngài sai Thánh Thần Chân Lý đến, Đấng sẽ là Nguồn An Ủi mới và là sự Hiện Diện của Ngài ở bên trong, thì lúc đó bà mới thực sự được Ngài, Đấng bà mỏi mong tìm kiếm – là Đức Kitô phục sinh vinh hiển. Đó là tín hiệu đầu tiên Ngài báo cho biết, sau khi sống lại, ở trong quan hệ mới của Ngài với con người, điều mà Ngài đã nói rất rõ ràng lưu loát ở Bữa Tiệc Ly. Ngài cũng sẽ dạy cho các môn đệ bài học giống như vậy, vì họ đã qúa suy nghĩ theo kiểu loài người, qua cách Ngài nói với họ rằng việc Ngài ra đi là điều cần thiết. Ma-đa-lê-na đã muốn ở gần bên Ngài trước khi Ngài bị đóng đinh, và quên rằng việc chịu đóng đinh là để cho sự vinh quang và để Chúa Thánh Thần đến.

Tuy Ma-đa-lê-na bị từ chối bởi việc ngăn cấm này của Chúa Cứu Thế, bà vẫn được cảm nghiệm sự ca tụng trong sứ vụ mang tin mừng Phục Sinh của Ngài. Mấy ông đã nắm bắt được ý nghĩa của ngôi mộ trống, nhưng không nắm bắt được sự liên hệ về ơn Cứu chuộc và sự chiến thắng tội lỗi và sự dữ. Ma-đa-lê-na đã đập bể bình dầu thơm qúi gía là sự Phục Sinh của Ngài nhờ đó dầu thơm có thể loan tỏa khắp thế gian. Ngài đã nói với bà:

"Thôi, đừng giữ Thầy lại, vì Thầy chưa lên cùng Chúa Cha. Nhưng hãy đi gặp anh em Thầy và bảo họ: "Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em, lên cùng Thiên Chúa của Thầy, cũng là Thiên Chúa của anh em". (Gio 20:17).

Đây là lần đầu tiên Chúa Giêsu gọi các môn đệ là “Anh em của Thầy.” Trước khi con người trở nên người anh em thừa nhận của Con Thiên Chúa, thì họ phải được cứu chuộc khỏi tình trạng thù nghịch với Thiên Chúa.

Thật, Thầy bảo thật anh em, nếu hạt lúa gieo vào lòng đất mà không chết đi, thì nó vẫn trơ trọi một mình; còn nếu chết đi, nó mới sinh được nhiều hạt khác.(Gio 12:24).

Ngài đã dùng việc đóng đinh trên Thánh gía để nhân cấp hóa vai trò làm Con của Ngài đến những người con khác của Thiên Chúa. Nhưng có sự rất khác biệt giữa Ngài là Con chính thức và nhân loại là những người nhờ Thánh Thần của Ngài làm cho trở nên những người con được đón nhận vào. Bởi vậy, Ngài luôn thận trọng phân biệt “Cha Ta” và “Cha các ngươi.” Không bao giờ trong suốt cuộc đời Ngài lại nói “Cha của chúng ta” giống như tình liên hệ đồng hàng giữa Ngài và nhân loại; tình liên hệ của Ngài với Chúa Cha thật đặc biệt và không thể thông truyền được; Tình nghĩa Cha Con thuộc về thiên tính của Ngài; loài người là con cái Thiên Chúa chỉ do bởi ơn thánh và được thừa nhận.

Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là anh em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho anh em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. (DT 2:11)

Ngài cũng chẳng sai Maria báo cho các Tông Đồ rằng Ngài đã sống lại nhưng mà là Ngài sẽ lên trời cùng Cha. Biến cố phục sinh ám chỉ đến việc Lên Trời, sẽ đến bốn mươi ngày sau đó. Mục đích của Ngài không phải chỉ là nhấn mạnh đến Ngài đã chết và bây giờ sống lại, nhưng đây chỉ là khởi điểm cho một Vương Quốc sẽ được tỏ lộ và kết nạp khi Ngài sai Thánh Thần của Ngài đến.

Vâng lệnh, Maria Ma-đa-lê-na đã mau mắn đi gặp các môn đệ đang còn “khóc than”. Bà nói với họ là bà đã nhìn thấy Chúa và báo cho họ biết những lời Ngài đã nói với bà. Lời báo tin của bà đã được đón nhận thế nào? Lại một lần nữa trong ngờ vực, hoài nghi, và không tin. Các Tông Đồ đã nghe Ngài nói qua hình ảnh, biểu tượng, dụ ngôn, và thẳng thắn rõ ràng về sự Sống Lại xẩy ra sau cái chết của Ngài, nhưng:

Nghe bà nói Người đang sống và bà đã thấy Người, các ông vẫn không tin. (Mc 16:11)

Bà Evà đã tin lời con rắn; nhưng các môn đệ đã không tin Con Thiên Chúa. Với Maria Ma-đa-lê-na và các người phụ nữ khác nói về sự Phục sinh của Ngài, họ đều không tin:

Khi từ mộ trở về, các bà kể cho Nhóm Mười Một và mọi người khác biết tất cả những sự việc ấy. Mấy bà nói đây là bà Ma-ri-a Mác-đa-la, bà Gio-an-na, và bà Ma-ri-a, mẹ ông Gia-cô-bê. Các bà khác cùng đi với mấy bà này cũng nói với các Tông Đồ như vậy. Nhưng các ông cho là chuyện vớ vẩn, nên chẳng tin. (Lc 24:10-11)

Đây chính là tiên báo về cách mà thế giới sẽ đón nhận tin về ơn Cứu Chuộc. Maria Ma-đa-lê-na và các người phụ nữ khác thoạt đầu cũng đã không tin về việc Sống Lại; họ cũng phải được thuyết phục. Các Tông Đồ cũng đã chẳng tin. Câu trả lời của họ là “Quí vị biết họ là đàn bà mà! Lúc nào cũng tưởng tượng mơ màng!” Từ xa xưa trước khi có khoa tâm lý, người ta đã e dè sợ để trí khôn của họ mê hoặc lừa ảo họ. Sự ngờ vực thời đại hôm nay trước cái ngoại thường không thể so sánh với sự nghi ngờ xẩy ra ngay khi nghe tin báo về sự Sống Lại. Điều mà những người nghi ngờ của thời đại ngày nay nói về câu truyện Phục Sinh, thì chính các môn đệ đã là những người đầu tiên nói rồi, nó chỉ là câu truyện đồn thổi nhảm nhí. Như những người cho là không thể tin của Kitô giáo lúc ban đầu, với sự đồng thuận các Tông đồ đã cho là toàn câu truyện là một ảo tưởng. Phải có điều gì đó rất đặc biệt đã xẩy ra, và điều gì đó rất cụ thể làm chứng cớ để cho những con người nghi ngờ này tin mà không còn nghi ngờ nữa.

Sự ngờ vực của các môn đệ còn khó thuyết phục hơn là sự nghi ngờ của những người nghi nan của thời đại hôm nay, bởi vì sự nghi ngờ của họ khởi sự từ một niềm hy vọng đã bị dập tắt trên đồi Can-va-ri-ô; điều này khó để được chữa lành hơn là cái nghi ngờ của con người thời đại không có sự trông đợi kỳ vọng nào. Không gì xa hơn sự thật cho bằng nói là những người môn đệ của Chúa đã mong mỏi sự sống lại và, do đó, họ đang sẵn sàng tin ngay lập tức hoặc thấy được sự an ủi ngay đối với một điều mất mát dường như không thể hồi phục. Chưa một người hoài nghi nào đã từng viết bất cứ điều gì về sự Phục Sinh mà Phêrô và các vị Tông Đồ khác đã không có trong tâm trí của họ. Khi Mohammed chết, Omar đã vội chạy vào căn lều cùa ông, cầm kiếm trong tay, và tuyên bố rằng ông sẽ giết bất cứ ai nói là vị Tiên tri Mahommed đã chết. Trong trường hợp của Đức Kitô, thì người ta tin là Ngài đã chết, những để tin là Ngài còn sống thì thật là một việc bắt buộc bất đắc dĩ. Nhưng có lẽ họ được phép để nghi ngờ, nhờ đó các Kitô hữu của những thế hệ sau có thể tin mà không bao giờ còn phải nghi ngờ nữa.

Archbishop Fulton SheenL.

M. Gioan Trần Khả chuyển ngữ

Nguồn : daminhrosalima.net

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi