Hôn nhân - gia đình

Tính dục mầu nhiệm, phần một

Ngày đăng:24-06-2020 |9:37 PM | 98 Lượt xem

TÍNH DỤC MẦU NHIỆM

(Phần một)

Etienne Roze (Louis Nguyễn Anh Tuấn chuyển ngữ từ “L’inafferrabile differenza” in Verità e splendore della differenza sessuale, Cantagalli, Siena 2014)

WHĐ (24.6.2020) – Con người được tạo dựng có nam có nữ. Hai người khác giới nhưng cùng một bản tính người, gọi là nhân tính. Nhân tính họ có chung ấy là đồng nhất tính hay căn tính (identity) của con người. Còn giới tính nam và nữ khác biệt là dị biệt tính (difference). Họ có chung một căn cước lưỡng tính được biểu lộ ra là một người nam hoặc một người nữ. 

1. Tại sao lại có sự khác biệt nam nữ ấy? Ý nghĩa của sự dị biệt giới tính là gì?

Giới tính (hay phái tính) làm nên sự khác biệt. Giới tính tạo nên một giới hạn trong bản tính nhân loại vốn luôn luôn và chỉ tồn tại trong tư cách như là một người nam (giống đực) hoặc như là một người nữ (giống cái). Không bao giờ và cũng sẽ không bao giờ có một ai đó với đầy đủ nhân tính toàn thể độc lập, mà chỉ có thể là một phần (hay một khía cạnh) của nhân tính ấy, như là nam hay là nữ, mà thôi. Nơi đầu tiên biểu lộ sự phân chia này là thân xác. Giới tính khác biệt này thâm nhập khắp thân xác đến tận cùng các tế bào. Cha mẹ góp phần di truyền cho con từ trong thai mẫu đã xác định thai nhi là nam hay nữ.

Dị biệt giới tính không là giới hạn duy nhất của con người. Giới hạn là số phận của con người, một hoàn cảnh đặc thù của tình trạng thụ tạo vốn hữu hạn vì nó chỉ tham dự vào Hữu thể chứ không là toàn thể Hữu thể. Thế nhưng sự giới hạn ấy có ích cho con người vì buộc nó phải cởi mở ra trong tương giao phụ thuộc để đón nhận cái mình còn thiếu và được bổ túc cho phong phú. Giới tính nam-nữ dị biệt của con người thuộc về tình trạng giới hạn ấy của hữu thể hữu hạn, cũng là một thiện ích của tình trạng hữu hạn này. Chính sự giới hạn ấy sẽ giúp con người vươn tới sự thành toàn viên mãn của mình. Theo nghĩa đó, tình trạng bất tất mong manh là dấu chỉ và là cơ hội để hướng ta về tha nhân. Người nam và người nữ tìm kiếm nhau để gặp nhau, hiến thân cho nhau và kết hợp nên một mầu nhiệm khôn thấu. Sự dị biệt giới tính như là một giới hạn nhân học kêu gọi và chuẩn bị cho một quan hệ giúp ta sống tương trợ bổ túc, nhờ sự trao hiến cho nhau trong một xương một thịt. 

Chính sự giới hạn bởi dị biệt giới tính này làm nổi bật hình ảnh của Thiên Chúa trong mối quan hệ nam-nữ. Chính nó khiến cho người nam và người nữ có thể phản chiếu imago Dei: “Thiên Chúa sáng tạo con người theo hình ảnh mình […]. Thiên Chúa sáng tạo con người có nam có nữ” (St 1,27). Ta không thể khẳng định điều ấy nơi các hữu thể thuần túy thiêng liêng, vì họ hoàn hảo hơn xét theo yếu tính tồn hữu của họ, họ không cần được bổ túc và hội ngộ trong một kết hợp nhất thể lưỡng cực (dual unity) như loài người. Mỗi hữu thể thuần thiêng đã thể hiện trọn vẹn loài của mình. Như vậy, dẫu hoàn hảo hơn loài người vì gần Hữu thể thần linh hơn, nhưng hữu thể thuần thiêng lại kém là hình ảnh Thiên Chúa hơn người nam và người nữ, qua sự trao hiến cho nhau. 

2. Tính dục: một cơ hội cho quan hệ

Giới tính phân li hai con người nam và nữ khác biệt và đánh dấu sự dị biệt tính dục. Thế nhưng, họ không tồn tại để mà chia li và sống đơn độc, điều đó trái nghịch với ý nghĩa của thân phận thụ tạo của họ. Sự giới hạn đặc trưng của họ bộc lộ một sự khiếm khuyết cần được lấp đầy, đó là tha nhân, một con người khác. Làm thế nào để lấp đầy khoảng trống này? Phải có một quan hệ khả dĩ giúp họ vượt qua được nỗi cô đơn của mỗi người như thế nào đó để họ gần gũi, lôi cuốn, chinh phục, yêu thương, dâng hiến và kết hợp nên một với nhau. Tính dục – quy định bởi giới tính – liên quan trước hết đến cấu hình thể xác của một nhân vị, là nam hay nữ và từ đó liên hệ đến chức năng của thân xác ấy như khả năng tương quan và dâng hiến cho nhau đến mức tạo sinh. 

Tính dục bén rễ trong thân xác con người từ khi tượng thai, một thân xác đã phân giới, là nam hay là nữ, quy định bởi nhiễm sắc thể, được phát triển lớn dần cùng với hệ sinh dục, các nội tiết tố, cơ quan sinh dục, não bộ và tâm lý thay đổi theo các giai đoạn tùy giới tính. Tính dục không chỉ là những hoạt động sinh dục[1], không chỉ là sinh lý, mà bao gồm rộng hơn nhiều liên quan đến toàn bộ thân xác, đánh dấu nơi phần lớn những bộ phận cơ thể nhạy cảm và những phần phát triển thứ yếu của ngoại hình như giọng nói, tóc tai, da dẻ, ngực, …, bao hàm toàn thể phạm vi tâm-thể-lý của con người. Nhưng tính dục có tầm quan trọng đặc biệt vì qua đó diễn đạt tình yêu dâng hiến trọn vẹn và mở ra với sự sống. 

Hẳn là, tính dục của thân xác không phải là một sự kiện phù phiếm, nhưng là một dữ kiện cơ bản và nền tảng của thực tại làm phát triển và nội tâm hóa căn tính của ta[2]. Chính khởi đi từ thân xác phân giới (thân xác của một người nam, của một người nữ) sống trong bối cảnh những tương quan liên vị phong phú mà chủ thể phát triển dần đến mức trưởng thành giới tính nam/nữ của mình, và từ đó khẳng định căn cước giới tính của mình (là đàn ông hay đàn bà) và cùng với nó khẳng định căn tính ngôi vị của mình (tôi là một người đàn ông hay tôi là một người đàn bà)[3]-[4]. Thai nhi phải thực hiện một quá trình dài và nhọc nhằn việc nội tâm hóa để mỗi ngày hình thành một rõ nét hơn nhân dạng của mình. Em bé kết nối trực tiếp với tính dục vốn trước hết ở trong cơ thể của em và rồi dẫn em đi vào các mối quan hệ, và chính những quan hệ này lại nuôi dưỡng tâm lý của em[5]. Những giai đoạn tiến triển tâm lý này được nhận thức và tổ chức xoay quanh các thời kì của trẻ khám phá vùng miệng, hậu môn, dương vật, bộ phận sinh dục, là thời gian tính dục phát triển. Sự kích thích khơi dậy và thôi thúc tính dục của chủ thể (tính dục hiểu như quan hệ[6]) là khoái cảm hay dục tình cho phép trẻ chiếm được lợi ích dưỡng sinh, tình cảm, tâm lý, v.v… mà nó cần để nội tâm hóa và củng cố căn tính ngôi vị của nó, đó là điều kiện để trẻ dám cởi mở ra quan hệ với những người mới, cùng giới hoặc khác giới, trong tình thương yêu đón nhận và cho đi, trong trao hiến sự sống. Bởi thế, vốn có gốc rễ từ trong thân xác và được xây dựng nên qua các mối quan hệ, tính dục nhằm phóng chủ thể hướng đến tha nhân, con người khác, nhờ có sự hấp dẫn của dục tính bổ sung, và như thế có thể vươn tới tha nhân ấy tận thâm sâu. Cuối cùng, nếu như giới tính (sex) là nguyên nhân của sự phân li và giới hạn hai con người nam-nữ khác biệt, thì tính dục (sexuality) theo nghĩa như một quan hệ sẽ là cơ hội cho hai con người khác biệt như hai cực kết hợp làm một với nhau (dual unity: nhất thể lưỡng cực), cho họ đạt đến sự viên mãn của họ. 

Tóm lại, tính dục khởi đi từ thân xác có phân giới giúp con người cởi mở bước vào những quan hệ phong phú. Bất cứ mối quan hệ nào giữa những người thuộc hai giới tính, không nhất thiết phải là một quan hệ thân mật của tính dục, đều được cho là quan hệ có sắc thái giới tính. Tính dục làm cho quan hệ thêm phong phú nên nó có chức năng xã hội hóa: một xã hội được xây dựng chỉ bởi những người nam hay chỉ bởi những người nữ sẽ như thế nào? Nó sẽ tiếp tục tồn tại được không? Bởi thế, xã hội có cân bằng là nhờ con người ta sống một tính dục lành mạnh giữa người nam và người nữ[7]. Tuy nhiên, trong mối quan hệ đôi bạn đặc thù nam-nữ tính dục được diễn tả mạnh mẽ nhất khi, chạm tới con người thâm sâu nhất qua tiếp xúc sinh dục, tính dục nhấn con người ngập vào một quan hệ yêu thương trao hiến mở ra với sự sống mới. Để kết luận, chúng ta nói rằng sự hữu hạn, do phân giới tính và được sống trong thân xác của người nam và người nữ, được vượt qua nhờ có tính dục, nó giúp người này mở ra sống vì người kia, trong sự trao hiến bổ túc tương hỗ cho nhau. Người ta chỉ là chính mình khi người này hiện hữu vì người kia. Điều đó, xét cho cùng, chính là ý nghĩa của tính dục. Mối quan hệ mới của hai người khác giới này được tôn quý gọi bằng một danh nghĩa mới, đó là sự trao hiến hôn phối. Vấn đề là một sự trao hiến có ý thức và quảng đại, nó biến đổi dữ kiện hữu thể học nhất thể lưỡng cực (nghĩa là tiếng gọi tự nhiên nam và nữ gặp lại mình trong sự kết hợp) thành một chọn lựa tự do nên một xương một thịt (una caro): “Người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt” (St 2,24). 

Nhìn vào ngữ nghĩa loại suy giữa “một xương một thịt – basar ehad” (St 2,24) và “Đức Chúa duy nhất – Adonai ehad” (Đnl 6,4), chúng ta nhận thấy mầu nhiệm hôn phối linh thiêng. Chính trong sự kết hợp cả xác hồn (điều người ta có thể làm bởi tính giới hạn do phân giới của họ) mà người nam và người nữ tái tạo trong trật tự tạo thành hình ảnh của Thiên Chúa: una caro phản chiếu Thiên Chúa duy nhất. Như vậy, giới tính con người bởi thân phận hữu hạn được biến hình thành một cái gì viên mãn, “toàn thể” nhờ tính dục: con người hoàn toàn là chính mình, giống như Thiên Chúa, khi họ là hai hợp nhất nên một. 

3. Dị biệt tính dục mở ra với truyền sinh (dị biệt thế hệ)

Nhờ tính dục phong nhiêu, quan hệ hôn phối mở rộng ra với một mối quan hệ sau cùng, là con cái. Tính dục mở ra với sự sống. Tặng phẩm sự sống được tích hợp trong tặng phẩm người nam trao hiến cho người nữ, và ngược lại. Có thể nói đó là tặng phẩm ở trong một tặng phẩm. Bởi thế, tính dục cho phép hai sự dị biệt đan dệt vào nhau, đó là: dị biệt tính dục và dị biệt thế hệ (do truyền sinh). Nói “đan dệt” vào nhau không có nghĩa là trộn lẫn hay hòa đồng với nhau thành một thực thể đơn giản duy nhất, đúng hơn nó bao hàm một “kết cấu”. Kết cấu đòi hỏi có “không gian”. Thật vậy, bất kì một kết hợp nào, đặc biệt là sự kết hợp hai cực thành một, gọi là nhất thể lưỡng cực (dual unity), đều có “kết cấu”[8]. Sự hợp nhất lưỡng cực, kết hợp đơn nhất hai người một nam một nữ, vẫn giữ hai người khác biệt không hòa tan với nhau, và không cân đối (lệch). Chính sự khác biệt không hòa tan này tạo một không gian, trong chính sự dâng hiến, cho một tặng phẩm khác, là đứa con. Đứa con phần mình lại trở thành tặng phẩm cho chính cha mẹ, những người ban tặng sự sống này. 

Những sự dị biệt bện thắt vào nhau này, bấy giờ, cho phép các thế hệ xuất hiện theo từng chu kì nối tiếp nhau và nối dài trong thời gian, qua việc hồi phục và khắc ghi trong thân xác sinh linh mới tượng thai dấu ấn dị biệt và giới hạn của giới tính, để rồi, tính dục xét như là quan hệ lại có thể kết hợp hai con người mới và, như thế là mở rộng trong không gian và thời gian cái thực thể một xương một thịt (una caro) này như là hình ảnh của Thiên Chúa (imago Dei). Chuyện kết hợp hai con người đồng giới chối bỏ tính dị biệt kia là hoàn toàn khác. Chuyện đó không bao giờ và không thể làm thành một hợp nhất lưỡng cực, mà chỉ là một sự hòa tan ngăn chặn không gian khả dĩ để cho một sự sống được hiến ban. Nếu tính dị biệt là điều kiện tối cần thiết (sine qua non) để có thể có sự sống, thì ngược lại không-dị-biệt không thể tạo ra cái gì khác ngoài sự trống rỗng và khiếm khuyết. 

4. Quan hệ tính dục khác biệt có tính bổ túc, tương hỗ, giao thoa và không cân đối

Chúng ta cố gắng xác định đầy đủ hơn sự khác biệt tính dục này. Bị phân li và giới hạn bởi giới tính, người nam và người nữ có thể nhờ tính dục mà đạt tới cái “toàn thể” một xương một thịt (una caro) của họ trên cơ sở của đồng nhất tính (bản tính nhân loại). Sự khác biệt này không để cho họ yên ổn, mà khuấy động xuyên suốt bên trong và cả bên ngoài con người ta. Bên trong, vì chúng ghi sâu trong hữu thể họ sự trống không vì khiếm khuyết tha nhân; bên ngoài, vì sự khuyết thiếu này phóng họ đi ra khỏi bản thân để đi đến với tha nhân. Vận động do khác biệt giống đực/cái này và tìm lại được sự thống nhất, giờ đây, cho phép chúng ta xác định những đặc tính của mối quan hệ tính dục khác biệt. Chúng ta chỉ ra bốn đặc tính của nó, đó là: bổ túc, tương hỗ, giao thoa và không cân (lệch)

Bổ túc có nghĩa là thêm vào cái còn thiếu nơi một cái gì đó để làm cho nó đầy đủ hơn. Chẳng hạn như người thầy dạy giúp học trò bổ túc phần chỉ dẫn còn thiếu trong chương trình giáo dục của anh ta; hay bác sĩ cho bệnh nhân thuốc chữa tăng sức khỏe mà bệnh nhân còn thiếu; hoặc, người cha khi dạy dỗ con mình là bổ túc những điều cần thiết giúp cho con nên người trưởng thành. Có thể áp dụng khái niệm bổ túc cho người nam và người nữ trong mối quan hệ dị biệt (tính dục) này không? Nếu như sự bổ túc được xem xét chỉ theo một chiều thì sẽ không phù hợp với mối quan hệ do khác biệt tính dục; còn nếu nó được quý trọng như một sự bổ túc cho nhau, thì nó có thể được đón nhận như đặc tính thứ nhất của định nghĩa của chúng ta. 

Sự bổ túc nam-nữ không giới hạn trong tương quan một người trợ giúp một người khác như đã nói. Sự bổ túc trong quan hệ dị biệt tính dục có hình thức tương hỗ, hoàn toàn đặc biệt. Tương hỗ hàm nghĩa có qua có lại, cho và nhận, là điều kiện để có một quan hệ trao đổi giữa người với người[9]. Nếu thiếu thì cần được bổ túc. Nếu cả hai cùng thiếu thì cần được bổ túc cho nhau. Tính dục hiểu như là quan hệ giữa người nam cởi mở ra cho người nữ và người nữ cởi mở ra cho người nam, thì nó đã hàm ẩn quan hệ tương hỗ. Người này cảm thấy tự trong chiều sâu hữu thể mình một sự thiếu vắng tha nhân, là con người khác biệt kia. Họ hướng đến nhau tìm vươn tới để gặp nhau, không chủ yếu để chiếm hữu cho bằng để trao hiến cho nhau, dấu chỉ của tình yêu thương nhau. Mỗi tặng phẩm trao ban thực sự là tặng phẩm khi nó vừa được trao ban vừa được nhận lãnh; ngược lại, nếu nó bị khước từ thì sẽ mất đi sức mạnh hữu thể của một tặng phẩm, có thể không còn là tặng phẩm nữa. Vì thế, người nam và người nữ bổ túc cho nhau trong khi hiến thân và nhận lãnh tương hỗ, mỗi người tùy theo đặc tính riêng của giới tính mình[10]. Người nữ, khi hiến thân sẽ trở nên là tặng phẩm cho người nam nếu người ấy đón nhận nàng qua những tính cách đặc thù của nam tính mình. Người nam cũng thế, khi hiến thân sẽ trở nên là tặng phẩm cho người nữ nếu người ấy đón nhận chàng qua những tính cách đặc thù của nữ tính mình. Tình yêu vợ chồng là diễn tả cao nhất của sự trao ban tương hỗ này. 

Quan hệ tính dục nam-nữ khác biệt có một đặc tính thứ ba nổi lên từ nét khác biệt bổ túc tương hỗ, đó là chiều kích “giao thoa”. “Giao thoa”[11] nghĩa là gì? Trong những quan hệ của họ, người nam và người nữ bổ túc cho nhau ở mọi cấp độ của nhân vị mình, từ bình diện sinh học, giải phẫu, đến tình cảm, tâm lý, ngữ học, quan hệ, xã hội, tinh thần, v.v… Nhưng trong sự bổ túc tương hỗ đó mối quan hệ có khuynh hướng hành động “giao thoa”. Điều này trước hết có thể nhận thấy về mặt giải phẫu học cơ thể của người nam và người nữ nơi các bộ phận sinh dục. Những yếu tố kết cấu sau đây cho thấy những tương hợp nào đó chứng tỏ có một sự bổ túc tương hỗ có tính “giao thoa”: các buồng trứng của phụ nữ ở nơi cao ứng với tinh hoàn của nam giới ở vị trí thấp; nếu như các vòi trứng, tử cung và âm đạo nơi người nữ có hướng đi xuống, thì các ống dẫn tinh, tuyến tiền liệt và dương vật người nam có hướng đi lên, để sau cùng dương vật và âm đạo có thể gặp nhau. Kế đến, nhận xét về hành động vợ chồng ta có thể thấy hành động này cũng có tính “giao thoa”. Trước hết, khi ta nhìn người nữ biểu lộ sự dâng hiến mình cho người nam qua hành vi tin cậy phó thác tựa nương vào chàng, tức là dựa vào phần cơ thể của người nam mà họ cảm thấy an toàn, mạnh mẽ, chắc chắn và tràn trề nhiệt lượng, như thể nàng tìm quay về cách nào đó với nơi chốn nguyên thủy xuất phát (xương sườn) và khép mình vào chàng. Sự dâng hiến tin cậy này của nàng được đón nhận như là quà tặng, khi người nam đón nhận nàng vào vòng tay ôm ấp và âu yếm vuốt ve, siết chặt để cảm nhận nàng trong con người chàng. Phần mình, người nam bày tỏ sự dâng hiến khi muốn xâm nhập vào người nữ. Sự xâm nhập này trở thành một sự hiến dâng khi người nam được người nữ đón nhận vào âm đạo giữa hai đùi của nàng để được chàng ngụ ở đó[12]. Chỉ qua tác hợp giữa các bộ phận lồi ra và lõm vào mới có thể cho phép giới tính này xâm nhập vào giới tính kia. Như thế, vấn đề là một chuyển động của người nam và người nữ bổ túc tương hỗ, mà sự tương hỗ đó lại “giao thoa”. Sự trao hiến và lãnh nhận của người nữ hướng ngược chiều lại với sự đón nhận và trao ban của người nam. Hoạt động của các cơ quan sinh dục và hành vi thân mật của người đàn ông và người đàn bà đều có ý: chúng biểu lộ kết cấu của mối tương quan dị biệt. Phân tích này cho ta những cơ hội khác để đào sâu khía cạnh “giao thoa” này của sự bổ túc tương hỗ nam-nữ. 

Trong sự trao hiến và đón nhận nhau, người nam và người nữ xâm nhập vào trong nhau. Sự trao hiến bổ túc hỗ tương này, vốn còn được tăng cường sự thân mật nhờ chuyển động “giao thoa” của quan hệ tình dục của họ, có chăng nguy cơ sự dị biệt bị hủy diệt hoàn toàn theo kiểu hòa tan nam tính và nữ tính cuối cùng chỉ còn là một toàn thể trung lập không? Đó là một cám dỗ không nên coi thường bởi lẽ nó đã được nêu ra từ thời cổ đại trong huyền thoại về con người ái nam ái nữ giống trung lập (androgyne). Nguy hiểm hòa tan này sẽ tránh được nhờ đặc tính thứ tư của sự dị biệt tính dục, đó là tính chất không cân đối (hay lệch). Sự trao hiến đón nhận tha nhân phối ngẫu kết hợp người nam và người nữ thành một xương một thịt mà không rơi vào nguy hiểm giản lược họ chỉ còn một nhân vị. Tại trung tâm điểm của một xương một thịt vẫn luôn có một không gian thực hữu khiến cho không thể có sự hòa tan hay trộn lẫn hai nhân vị. Không gian này, ngoài sự kiện là hữu thể nhân học và có kết cấu giúp cho có sự dị biệt thế hệ (qua truyền sinh) phát xuất từ sự dị biệt tính dục, cũng là mầu nhiệm khôn dò khôn thấu. Sự không cân đối của dị biệt tính dục bổ túc hỗ tương này dẫn ta về lại với mầu nhiệm ngôi vị và dị biệt.  

Mời đọc tiếp phần hai

Nguồn : WHĐ

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi