Học - hiểu - tin & sống

Thông Điệp về lao động của con người

Ngày đăng:01-05-2019 |4:15 AM | 115 Lượt xem

THÔNG ĐIỆP LAO ĐỘNG CỦA CON NGƯỜI

(LABOREM EXERCENS)

CỦA ĐỨC GIOAN PHAOLÔ II NHÂN KỶ NIỆM 90 NĂM

BAN HÀNH THÔNG ĐIỆP RERUM NOVARUM (9-1981)

LỜI GIỚI THIỆU

(của Gérard Defois, Tổng thư ký Hội đồng Giám Mục Pháp)

Nhân Bản Hóa Lao Động

Bản thông điệp của ĐGH Phaolô II được dành để trình bày về một đề tài cũ xưa như trái đất: Vấn đề lao động, ngay từ những trang đầu của sách Sáng Thế chúng ta đã thấy Đấng Tạo Hóa gắn lao động liền với con người, coi đó như một sứ vụ, một tương lai: “Hãy sinh sản hãy gia tăng đầy dãy trái đất và hãy bắt nó phục tùng” hoạt động của con người trên thế gian là tiếp tục công việc tạo dựng lưu truyền đời sống và biến đổi thiên nhiên đi song song với nhau.

Tuy nhiên người ta không thể phủ nhận sự tiến hóa kỳ lạ của các hình thức lao động, có từ những ngày đầu và nhất là từ một thế kỷ – nói cho thật đúng là từ 90 năm nay – kể từ khi đức Giáo Hoàng Lêô XIII phát biểu lần đầu tiên trong lịch sử Giáo Hội về “vấn đề thợ thuyền”. Ngày nay, vào kỷ nguyên của những máy vi phát, máy điện toán, của sự dự phòng xã hội và các quyền nghiệp đoàn, các tổ chức đa quốc gia và cuộc khủng hoảng việc làm trên khắp nơi, các dự kiện hoàn toàn khác hẳn và các trách nhiệm ngày càng thêm lớn lao. Thế giới lao động là một thế giới đầy khủng hoảng căng thẳng. Trong sự kiện lịch sử này ĐGH kêu gọi tất cả chúng ta phải lưu tâm dùng đạo đức và ý thức luân lý để đem lại nhân tính cho hoạt động của con người với các điều kiện tổ chức và các hợp lực tối tân của hoạt động này.

Lao động phục vụ cho con người chứ không phải con người phục vụ cho lao động.

Ngày nay lao động của con người đang đứng giữa hai ngả đường. Con đường của kỹ thuật: Các ngành kỹ nghệ phát triển, những kỹ thuật tân tiến, điện tử, điện toán, viễn toán … đã mở rộng tầm quan hệ giữa con người và thiên nhiên đến mức độ biến máy móc thành tác giả thứ nhất của việc biến đổi sự vật. Con đường của kinh tế: giá cả của năng lượng và nguyên liệu, ý thức của con người trước tính chất hạn chế của tài nguyên thiên nhiên và những nguy cơ của ô nhiễm, sự xuất hiện trên chính trường thế giới của những dân tộc mới đây còn bị lệ thuộc, ngày nay đòi hỏi chỗ đứng trong việc đưa ra những quyết định quốc tế. Việc phân phối lao động thế giới trở thành một vấn đề đặc biệt và sự thất nghiệp là dấu hiệu sự thất bại ê chề của tiến bộ, sự tiến bộ vẫn tự phụ là sẽ đảm bảo cho mọi người được sống đầy đủ dư dật.

Đối với các Kitô hữu, nhân tính của lao động là tính chất chủ chốt của tất cả “vấn đề xã hội”. Nó đáng để cho chúng ta dừng chân suy nghĩ để phán đoán về những phán đoán mới đây theo ý nghĩa hiện đại của hoạt động con người cũng như về những công việc mới đang chờ đợi chúng ta.

ĐGH tự hỏi không biết có phải con người đã đảo lộn bậc thang giá trị trong các xã hội hiện đang tăng trưởng không. Kỹ thuật – tức là lao động theo ý nghĩa khách quan – cung cấp cho người lao động những dụng cụ gia tăng gấp trăm sức mạnh hoạt động của họ, làm dễ dàng, tăng thêm tốc độ và hoàn bị cho lao động; Kỹ thuật là đồng minh của con người song nó cũng có thể phản lại trở thành một kẻ thù địch khi việc cơ giới hóa hất chân con người, làm họ mất những sảng khoái trong công việc, ngăn chặn óc sáng tạo và giảm bớt tinh thần trách nhiệm của họ; phát sinh ra nạn thất nghiệp và nô lệ hóa con người, khiến họ còn chỉ là người thi hành lệnh của các tác phẩm của mình. Nhân phẩm của lao động như bị tha hóa tận gốc rễ khi con người và nhiệm vụ của họ bị chủ nghĩa duy vật và duy kinh tế biến thành một thứ hàng hóa, một thứ lực lượng trong lao động, một thứ “dụng cụ sản xuất”. Sự đảo lộn các giá trị là một sự kiện hiển nhiên; trong chế độ tư bản, nó được khoác bộ áo chủ thuyết. Người lao động được đối xử không khác gì toàn bộ các phương tiện vật chất của sản xuất và không được coi là mục tiêu của tất cả tiến trình kinh tế: nói tóm lại, họ bị khai thác cho các mưu lợi về vật chất.

Con người là chủ thể của lao động tức là lao động theo nghĩa chủ quan như Đức Gioan Phao Lô II nói – có nghĩa là nhân vị của con người phải là một nhân tố đứng ở trên. Và đây là vấn đề thuộc đạo đức học. Trong việc làm, sinh vật tự biểu lộ ra với chính mình, nhờ làm chủ được các sự vật và nhờ khả năng quyết đoán của mình; họ nuôi sống gia đình và tham gia làm giàu cho di sản lịch sử và xã hội của đất nước. Họ hiểu rõ mình liên đới với tất cả các người lao động trong gia đình nhân loại. Lao động con người liên đới chúng ta lại với nhau. Lời Kinh Thánh kêu gọi “hãy chế ngự trái đất” tuy vẳng lại từ ngàn xưa, song vẫn luôn luôn thúc giục tất cả mọi người của mọi thời đại và đòi hỏi phải lựa chọn, phải phân biệt thứ tự ưu tiên; đó là tất cả những gì cần thiết để giúp cho nhân phẩm được tôn trọng. Việc làm tăng giá trị cho vật chất không thể làm cho người lao động mất giá trị. Tất cả những việc trên đây bó buộc chúng ta về tinh thần phải bắt hoạt động kinh tế nằm trong một “nền trật tự về xã hội về lao động” bởi vì, dù kỹ nghệ có tiến bộ trở thành phức tạp đến đâu, vấn đề nghiên cứu tìm hiểu và các dịch vụ có được nâng cao tới mức độ nào, thì lao động vẫn phục dịch cho con người chứ con người không phục dịch cho lao động”.

“Tư bản phục vụ cho lao động chứ không phải lao động phục vụ cho tư bản”

Muốn giáo hóa, nhân bản hóa lao động ngày nay, đương nhiên phải tiến vào một cuộc tranh chấp lịch sử: tranh chấp giữa lao động với tư bản. Lòng tin vào một Đấng Tạo Hóa nền tảng của một trật tự xã hội và văn hóa, một quyền của quốc gia và quốc tế, đi ngược lại với những “giáo điều” của chủ thuyết tự do, thứ chủ thuyết giao phó việc giải quyết các mối tương quan của loài người cho hệ thống trao đổi tài chánh. Thứ chủ thuyết tự do này làm giàu thêm cho một số nhỏ những người nắm giữ những phương tiện sản xuất và làm nghèo thêm, cả về tài chánh lẫn văn hóa, các người lao động. Sự cách biệt lợi nhuận của một số và đồng lương của những người khác, giữa sự an toàn của những người này và sự bất ổn của một số khác,tất nhiên sẽ gây ra một cuộc tranh chấp xã hội kinh tế. Đó là bối cảnh của thế kỷ chúng ta. Hơn thế nữa, với sự bất bình đẳng giữa hai miền Bắc và Nam của trái đất, tình trạng căng thẳng từ nay bao trùm toàn thể thế giới.

Tại đây, Đ.G.H không muốn tự giam mình trong khung cảnh những tranh luận về ý thức hệ giữa chế độ tự do và chế độ Mác Xít; cả hai chế độ đều có cùng một ngộ nhận, và tùy theo những bức thiết của sản xuất hoặc chính trị, cũng đều đi đến chỗ làm thu hẹp nhãn giới của con người và nhân phẩm của họ. Muốn thành lập một tổ chức xã hội, trong phạm vi một xí nghiệp hoặc trên bình diện thế giới, và thành lập trên tinh thần đạo đức của con người, phải tìm cách định giá lại các hệ thống mậu dịch, sản xuất và hùn vốn.

Người ta không thể tách rời tư bản với người lao động. Tư bản không phải là một chủ thể, một quyền lực hoàn hành tự do không đếm xỉa đến những gì nó sản xuất lợi ích vô danh để chỉ huy vận mệnh của loài người. Các người lao động phải được quyền ưu tiên trong việc quản trị một xí nghiệp, nếu không chế độ kinh tế đó sẽ nuôi dưỡng bất công và hợp pháp hóa những hành động bóc lột nhiều hình thức để rồi nô lệ hóa người lao động. Và sau đây là hai hậu quả cụ thể cực kỳ quan trọng:

1. Trước hết về phương diện quyền tư hữu đối với các phương tiện sản xuất. Theo giáo lý truyền thống của Giáo Hội, quyền tư hữu không phải là một quyền tuyệt đối và bất khả xâm phạm. Tất cả mọi sở hữu đều tùy thuộc và việc sử dụng chung và vào mục đích phổ quát của các của cải; quyền sở hữu đối với các phương tiện sản xuất chỉ có ý nghĩa nếu nó phụ thuộc vào lao động và bảo đảm được viễn ảnh việc sử dụng chung. Trên danh nghĩa đó, phải nói là nguồn mạch của nhiệm vụ hơn là quyền lợi. Ở đây, quan điểm của thứ chế độ “tư bản cứng nhắc” trong đời sống kinh tế, là một quan điểm không thể chấp nhận được.

2. Thứ đến, về phương diện quyền sở hữu tập thể đối với các tư liệu sản xuất, Đức Giáo Hoàng không dùng danh từ “Quốc hữu hóa”, mà dùng danh từ “Xã hội hóa”. Ngài cho rằng đó là việc hợp pháp đối với một số các tư liệu sản xuất, nhất là vì tư bản luôn luôn được gia tăng thêm nhờ hành động. Nguyên việc “Quốc gia hóa” các phương tiện sản xuất hoàn toàn không đủ đảm bảo cho sự công bằng và cho nhân tính của lao động, vì một số nhóm người có thể bóc lột các người lao động, nhân danh một thứ tư bản của Nhà Nước, một thứ chế độ cướp mất óc sáng kiến và phẩm cách của người lao động qua mạng lưới của một thứ chế độ văn hóa quan liêu.

Tư bản là để phục dịch cho con người. Như thế có nghĩa là người lao động phải có khả năng khuất phục được tư bản nhân danh một quan niệm cá nhân và nhân bản về hoạt động của họ và nhờ vào những cơ cấu có tính cách đồng trách nhiệm khiến họ ý thức rằng: họ “làm việc cho chính mình”…

Những liên đới về lịch sử

Đức Gioan Phaolô II cho rằng “sự phản ứng chống lại chế độ bất công và tác hại mà tiếng kêu báo oán thấu tới trời” trong buổi đầu của chế độ tư bản là một phản ứng chính đáng về phương diện đạo đức xã hội. Phong trào thợ thuyền, xuất phát từ phản ứng đó, được coi như việc người ta ý thức về quyền người lao động. Tinh thần liên đới này đã tạo ra những biến đổi sâu xa trong công việc phân phối và các điều kiện của lao động. Đức Giáo Hoàng xác định rằng những quyền lợi khách quan của người lao động là tiêu chuẩn tương xứng và căn bản trong việc hình thành bất cứ một chế độ kinh tế nào. Về phương diện này, Ngài trình bày rất dài về các điều kiện lao động của con người trong thời đại ngày này, về chính sách quốc gia và quốc tế và những thỏa ước tập thể. Ngài xác định một cách rõ ràng hơn nữa: quyền công đoàn là một nhân quyền, quyền họp hội, một sự phấn khởi của tinh thần liên đới trong hành động và trong cuộc chung sức tranh đấu chống lại giảm giá của lao động và việc bóc lột sức lao động. Ngài ao ước trong các xí nghiệp, sự tham gia vào việc quản trị và kiểm soát sản xuất được mở rộng hơn. Mục đích của cộng đoàn, trong một diện kinh tế có khi đòi hỏi phải nhắm đến thực tại, là làm thế nào để người lao động có được chất sống, trở thành một ”hữu thể nhiều hơn”, một hữu thể mệnh danh là nhân phẩm.

Tất cả phong trào có tính chất nghiệp đoàn, thợ thuyền và nông dân này là một trong những lực hợp thành cần thiết cho một “trật tự xã hội” trong đó sự lao động, được coi như một biểu lộ của con người, phải tìm được vị trí ưu tiên của mình trong các chế độ kinh tế, dù họ là một người khuyết tật, di trú hay chỉ là một người vô sản…

Nền đạo đức học về lao động

Chúa Kitô của chúng ta là một người lao động, một người lao động chân tay. Một thứ hoạt động mà cả một thời cổ xa xưa dành cho hạng nô lệ, được Thiên Chúa chọn lấy để chứng tỏ Ngài gần gũi với loài người. Một “Giáo Hội của người nghèo”, trong cảnh cực nhọc của loài người và trong niềm hy vọng của một thế giới mới, trong lao động vất vả cũng như trong tạo dựng hân hoan, Giáo Hội thông phần với sức động lực của sự chết và phục sinh của chính Đấng hành động trong tâm hồn con người, thông phần với sự tiến bộ của thế giới, bằng uy lực của Thần Linh Chúa.

GÉRARD DEFOIS

Tổng thư ký Hội đồng Giám Mục Pháp

Nguồn : catechesis.net

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi