Hiểu cha già Quynh ?

Tinh thần cha già Laurensô Phạm Hân Quynh

Ngày đăng:25-05-2018 |2:37 AM | 1281 Lượt xem

Tinh thần cha già Laurensô Phạm Hân Quynh

Nói về tinh thần và những thao thức của cha già (Đức Ông) Laurensô Phạm Hân Quynh thì có rất nhiều điều để đề cập tới. Trong bài ngắn hôm nay người viết chỉ xin mạnh dạn trình bày một khía cạnh nhỏ, nhưng quan trọng, nó đã góp phần tạo nên một linh mục của Chúa và Giáo Hội, với những gì mà hai tiếng linh mục đòi buộc.

Năm 1988 sau khi được giải quản, cha già đã trở lại nước Pháp thăm lại bạn cũ, trường xưa và các bậc thầy của ngài, cũng là để tìm hiểu cụ thể hơn hiện tình Giáo Hội tại Pháp và Châu Âu hầu có những đề nghị, đường hướng thích nghi kịp thời cho Giáo Hội tại Việt Nam, ít nhất là Giáo phận Hải Phòng. Cùng dịp đó ngài đã được yết kiến Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II. Chính Đức Gio-an Phao-lô II đã ôm cha già vào lòng và nói rằng cha biết con là linh mục đã chịu khổ nhiều vì Giáo Hội… và cha già đã thưa với Đức Thánh Cha : « Đau khổ cũng là một cách để linh mục trải nghiệm thập giá cùng Đức Giê-su Ki-tô ».

Nhớ lại khi cha già còn học tại Paris, Nam Bắc phân tranh, cả chính quyền miền Bắc cũng như miền Nam lúc ấy đều mời ngài tham gia vào chính trị trong nội các của họ, nhưng cha đã từ chối một « ân huệ » có thể nói là rất lớn (theo cách nhìn của người đời) cho việc tiến thân của một con người bình thường. Cha có lý tưởng của mình, muốn trở thành linh mục của Chúa và là người của Ngài. Vì lý tưởng ấy mà cha già đã chấp nhận chịu khổ vì Giáo Hội suốt cuộc đời trong mọi môi trường sống.

Cha chịu những khổ ải ấy với tất cả tấm lòng yêu mến Chúa và Giáo Hội cùng dân tộc mình. Tình yêu ấy được thúc bách bởi tình yêu Đức Ki-tô, đã giúp cha vượt lên cách anh dũng, can trường và vui vẻ những thử thách, gian truân, những hiểu lầm, nghi kị từ mọi phía. 

Cái vóc dáng bé nhỏ của cha già dường như không cân xứng với những thử thách mà cha đã phải gánh chịu. Tuy vậy, vì ý thức được sứ mạng Chúa giao không phải là do công trạng riêng của mình, nhưng là do bởi tình thương của Chúa, đã giúp cha già có một niềm tin vừa mạnh mẽ và cương nghị, vừa khiêm tốn trong nhiệm vụ, làm cho ngài trở thành một chiến sĩ đức tin. Cha già « đã dùng mọi điều kiện, mọi hoàn cảnh để rao giảng Lời Chúa, như người quản lý trung thành và cần mẫn, và ngài đã nhiệt thành đem giáo huấn của Chúa đến cho các tín hữu ».

Cũng vì ý thức được điều ấy, nên nhiệt huyết bảo vệ đoàn chiên, bảo vệ Giáo Hội luôn luôn mạnh mẽ nơi cha già, nên ngài luôn sống khiêm tốn và vâng lời. Khiêm tốn để tôn trọng tất cả những người mà Chúa gửi đến với ngài trong mọi hoàn cảnh khác nhau, không phân biệt tầng lớp, giai cấp, trình độ văn hóa, tôn giáo, chính trị… Vâng lời bề trên để thi hành bổn phận, trách nhiệm ở vị trí của mình là linh mục.

Khiêm tốn và vâng lời là hai điều người viết muốn nhấn mạnh hôm nay. 

Cha già không phải là một người có kiến thức ăn đong, góp nhặt, chắp vá, mà có nền tảng, hệ thống rõ ràng. Được ví như một cây đại thụ của Giáo Hội miền Bắc không phải chỉ vì cha đã hy sinh, rao giảng và bảo vệ Giáo Hội bằng chính cuộc đời mình, nhưng còn vì những tư tưởng giáo lý, thần học, nhất là trong lĩnh vực hội nhập văn hóa, đã được biết đến cách khá rộng rãi trong cũng như ngoài Giáo Hội. 

Tôi là linh mục Việt Nam là tâm nguyện cả đời cha già. Là linh mục Việt Nam hầu dấn thân giảng đạo cho đồng bào của mình thích nghi với văn hóa và tinh thần dân tộc.

Tất cả những việc cha già đã làm cũng như trong chính phong cách sống của ngài, là nhằm góp phần để Giáo Hội tại Việt Nam tìm ra một hướng rao giảng Tin Mừng thiết thực, gần gũi với văn hóa, tâm tình tôn giáo trong môi trường Việt Nam, với hy vọng có thể ít nhất là tạo được cái nhìn thông cảm, thiện cảm của những người chưa tin vào Chúa, vào Giáo Hội, tránh những nghi kị, hiểu lầm đáng tiếc như đã xảy ra, và sâu xa hơn là dần dần qua đó để ơn Chúa cảm hóa họ, cho họ đến với Ngài.

Dẫu vậy, cha già luôn khiêm tốn nhìn nhận rằng đây mới chỉ còn là những bước đầu, đang tìm kiếm, mò mẫm… chưa phải đã là câu trả lời cho mọi vấn đề liên quan. Cha già luôn xin những người quan tâm tới vấn đề hội nhập văn hóa, rao giảng Tin Mừng tại Việt Nam theo tinh thần Thư chung HĐGMVN năm 1980 và Tông Huấn Giáo Hội tại Á Châu, góp ý kiến, tìm tòi, suy tư, nghiên cứu của họ để vấn đề ngày càng được sáng tỏ, hầu có thể áp dụng rộng rãi hơn.

Cha già rất cẩn trọng trong vấn đề này, nên có nhiều lần ngài đã nhắc nhở con cái ngài cẩn thận, vì đây là một bước đột phá, mới mẻ, có thể còn chưa thích hợp với nhiều nơi và nhiều người. Cũng chưa chắc mọi người đã hiểu thấu tất cả vấn đề… nên ta có bị khước từ thì cũng là chuyện dễ hiểu. Chính vì thế mà cha luôn vâng lời bề trên, chỉ áp dụng vào thực tế trên diện hẹp, tại những nơi ngài coi sóc, giảng dạy thường xuyên trong vòng vài thập niên gần đây, còn trên diện rộng trong giáo phận, hay Giáo Hội miền bắc thường mới chỉ dừng lại ở việc chia sẻ, giảng dạy nơi này hay nơi khác mà thôi.

Trách nhiệm của con cái ngài (đó cũng là thao thức của cha già), của những người yêu mến Chúa, Giáo Hội cũng như dân tộc, muốn tìm ra phương thế loan báo Tin Mừng theo định hướng hội nhập văn hóa của HĐGMVN, có lẽ là cần bảo vệ tư tưởng, đường lối, hướng đi của cha già (chứ không phải bảo vệ cha già (Đức Ông), ngài qua đời rồi, việc ta làm là cầu nguyện cho ngài chứ không phải bảo vệ ngài), nghiên cứu, học hỏi, xây dựng, bổ túc cho hệ tư tưởng ấy được vững vàng theo chân lý Tin Mừng, dưới sự hướng dẫn của chính Giáo Hội Mẹ và của Chúa Thánh Thần.

Vì thế, ai có lòng muốn bảo vệ những điều ấy, có lẽ nên khiêm tốn như chính cha già, chấp nhận để cho những tư tưởng ấy được xào xáo, bàn tán, phê bình, thậm chí có thể là thái độ bác bỏ. Cũng như chính cuộc đời cha già, với tư tưởng của ngài, thời gian sẽ là câu trả lời tốt nhất. Hậu thế sẽ phán xét việc ta làm hôm nay như thế nào. Ta cũng để mỗi người tự do trả lời trước mặt Chúa và trước Dân Chúa, về suy nghĩ, về hành động của chính mình với người quá cố. Đừng phán xét nhau, kết tội nhau trước khi Chúa kết tội.

Phản ứng theo cảm tính là một sai lầm có thể sẽ gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng trong cuộc sống xã hội cũng như Giáo Hội. Cần có cảm tính, nhưng cũng không thể thiếu cảm tình, tình cảm trong việc nhìn nhận một con người, một vấn đề. Cha già không dạy con cái mình đối đầu, đối kháng với bất cứ ai, kể cả trong xã hội. Chính ngài là tấm gương sáng về vấn đề này. Dám chấp nhận hy sinh cái tôi ích kỷ của chính mình để cái lợi chung của Giáo Hội được đặt lên hàng đầu.

Tâm nguyện cả đời cha già là làm sao đào tạo những ki-tô hữu trở thành những người công giáo trí thức (chứ không phải chỉ là những nhà trí thức công giáo), để biết làm chủ Giáo Hội, xã hội, ở vị trí của mình, dám nói lên ý kiến để góp phần xây dựng Thân thể mầu nhiệm Chúa Ki-tô là Giáo Hội : biết tranh luận chứ không tranh cãi ; tôn trọng chứ không thóa mạ người khác ; vâng lời trong đối thoại chứ không mù quáng ; góp phần xây dựng chứ không phá vỡ ; kiến tạo hòa bình chứ không gây chia rẽ ; đối xử công bằng chứ không thiên vị ; sống đạo chứ không chỉ giữ đạo ; biết sống theo tiếng Chúa trong lương tâm chứ không a dua hay chạy theo trào lưu ; bình dân gần gũi chứ không hách dịch quan liêu ; thương người nghèo khổ neo đơn, bệnh hoạn chứ không xa lánh, tránh mặt… nhiều, rất nhiều điều và bài học làm người và làm con Chúa trong cuộc sống đời thường như thế.

« Tình yêu Đức Ki-tô thúc bách tôi » (2Cr 5,14). Có lẽ đây là dịp thuận tiện để ta đặt mình trước mặt Chúa và đọc lại chương 13 thư thứ nhất của thánh Phao-lô gửi tín hữu thành Côrintô :

« 1 Giả như tôi có nói được các thứ tiếng của loài người và của các thiên thần đi nữa, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng khác gì thanh la phèng phèng, chũm choẹ xoang xoảng. 
2   Giả như tôi được ơn nói tiên tri, và được biết hết mọi điều bí nhiệm, mọi lẽ cao siêu, hay có được tất cả đức tin đến chuyển núi dời non, mà không có đức mến, thì tôi cũng chẳng là gì.
3   Giả như tôi có đem hết gia tài cơ nghiệp mà bố thí, hay nộp cả thân xác tôi để chịu thiêu đốt, mà không có đức mến, thì cũng chẳng ích gì cho tôi.
4   Đức mến thì nhẫn nhục, hiền hậu, không ghen tương, không vênh vang, không tự đắc,
5   không làm điều bất chính, không tìm tư lợi, không nóng giận, không nuôi hận thù,
6   không mừng khi thấy sự gian ác, nhưng vui khi thấy điều chân thật.
7   Đức mến tha thứ tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, chịu đựng tất cả.
8   Đức mến không bao giờ mất được. Ơn nói tiên tri ư? Cũng chỉ nhất thời. Nói các tiếng lạ chăng? Có ngày sẽ hết. Ơn hiểu biết ư? Rồi cũng chẳng còn.
9   Vì chưng sự hiểu biết thì có ngần, ơn nói tiên tri cũng có hạn.
10 Khi cái hoàn hảo tới, thì cái có ngần có hạn sẽ biến đi.
11 Cũng như khi tôi còn là trẻ con, tôi nói năng như trẻ con, hiểu biết như trẻ con, suy nghĩ như trẻ con; nhưng khi tôi đã thành người lớn, thì tôi bỏ tất cả những gì là trẻ con.
12 Bây giờ chúng ta thấy lờ mờ như trong một tấm gương, mai sau sẽ được mặt giáp mặt. Bây giờ tôi biết chỉ có ngần có hạn, mai sau tôi sẽ được biết hết, như Thiên Chúa biết tôi.
13 Hiện nay đức tin, đức cậy, đức mến, cả ba đều tồn tại, nhưng cao trọng hơn cả là đức mến ».

 

Thay lời kết, trên tất cả, ta cần vì bảo vệ Giáo Hội mà biết sống như chính cha già đã sống, dám hy sinh, biết vâng lời bề trên, mới là cách trả ơn, cầu nguyện và phổ biến tinh thần của ngài cách tốt nhất[1].

« Một trăm cái lý không bằng một tí cái tình ». Người đời còn dạy nhau được như thế, nơi người ki-tô hữu thì còn hơn thế vì ta sống không chỉ tình người nhưng còn tình Chúa… mà trong tình Chúa thì không có cái lý nào, chỉ có cái tình, vì Thiên Chúa là Tình Yêu.

 

24/05/2018

Lm Phê-rô Nguyễn Văn Diện

[1]Người viết còn thấy mình còn phải cố gắng rất nhiều để có thể theo được tư tưởng và phong cách sống của thầy.

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi