Đức tin và văn hóa

Đạo Tổ tiên và đạo Công giáo tại Việt Nam: Cuộc gặp gỡ giữa văn hóa và tôn giáo

Ngày đăng:18-02-2017 |5:33 AM | 835 Lượt xem

Đạo Tổ tiên và đạo Công giáo tại Việt Nam: Cuộc gặp gỡ giữa văn hóa và tôn giáo

Năm 1980, thư chung của HĐGMVN đã để ra đường hướng “Sống PHÚC ÂM giữa lòng dân tộc” như phương châm giúp tín hữu thể hiện lòng tin Kitô nơi chính quê hương đồng bào của mình. Việc tìm hiểu sắc thái văn hoá dân tộc nói chung, địa phương nói riêng, là điều cần thiết để tin mừng Chúa Kitô có thể hội nhập vào lòng dân tộc này, giúp anh chị em tín hữu không trở thành kẻ xa lạ trên chính mảnh đất của mình.

Thực ra, tôn kính tổ tiên đã là một yếu tố văn hóa trong đời sống của người Việt Nam, những con người chủ yếu thiên về trực giác và cảm tính hơn là lý trí và luận cứ. Chính vì thế, khi tập tục này được du nhập và phát triển tại Việt Nam, Tam giáo (Phật, Lão, Khổng) chẳng những không loại bỏ, mà còn hòa trộn, thích ứng, và thậm chí bắt phải tuân giữ. Thế nhưng tiến trình này lại không diễn ra một cách êm ả đối với trường hợp Kitô giáo.

Hôm nay lại là một cơ hội để gợi lại vấn đề, có lẽ là riêng cho giáo phận Bắc Ninh, để phần nào gây ý thức nơi cộng đồng dân Chúa, và cùng nhau tìm kiếm những cách thức để Tin mừng có thể hội nhập vào cuộc sống của người dân Việt một cách tự nhiên và dễ dàng, thực tế là để trả lời câu hỏi từng gây băn khoăn cho nhiều anh chị em lương dân khi muốn tìm hiểu đạo Kitô: Theo đạo có phải là bỏ ông bà tổ tiên không? Và ngược lại là nỗi day dứt của nhiều anh chị em bên đạo khi kêt hôn với người bên lương: lấy chồng lấy vợ bên lương có phải bỏ đạo không? 

I. BỐI CẢNH CỦA VẤN ĐỀ: CUỘC TRANH LUẬN VỀ LỄ NGHI TRUNG HOA1.

1. Ở Trung Hoa

Các nhà truyền giáo Tây phương vào Trung Hoa cuối thời nhà Minh (1644 chấm dứt triều Minh) đem theo một tôn giáo “đậm màu sắc Tây phương”. Phần người Trung quốc, mặc dù xem vương quốc của mình là trung tâm văn hóa và văn minh thế giới thời đó, nhưng họ không hoàn toàn đóng cửa trước các tôn giáo ngoại quốc; họ vẫn tỏ ra khoan dung bao lâu tôn giáo mới này không can thiệp vào hay tìm cách lật đổ những cơ cấu xã hội cơ bản của họ.

Các giáo sĩ dòng Tên đã hết sức cố gắng sáng tạo, thích ứng, và sử dụng các phong tục phổ thông để tổ chức đời sống đạo cho các kitô hữu. Các thừa sai Pháp và Tây Ban Nha là những người thừa hưởng và phát triển những sáng kiến do các giáo sĩ dòng Tên khởi xướng. Tuy nhiên, về phương diện phụng tự, các thừa sai lại không nhất trí với nhau. Vì thế, nổ ra một cuộc tranh cãi gọi là “Cuộc tranh luận về lễ nghi Trung Hoa” kéo dài gần hai trăm năm trong Giáo hội, mãi đến năm 1939 mới chấm dứt với Huấn thị Plane compertum est.

Những diễn biến chính của cái gọi là “cuộc tranh luận về lễ nghi Trung Hoa”:

– Vấn đề tranh luận là gì?

Chủ yếu liên quan đến một số lễ nghi mà người Trung Hoa cử hành để và đức Khổng Phu Tử và tôn kính tổ tiên.

Khổng giáo là một học thuyết và một lối sống của tầng lớp trí thức, và chính từ tầng lớp này xuất hiện những quan chức cai quản đất nước. Các quan chức này được tuyển chọn theo một hệ thống thi cử. Lễ nghi trao ban bằng cấp cho những người đỗ đạt diễn ra tại đền thờ Đức Khổng. Vì ngài là vị thánh bảo trợ của các ông nghè ông cử, nên đương nhiên họ bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Khổng bằng những hành vi tôn kính trước ảnh hay bài vị Đức Khổng.

+ Thêm vào đó, khuôn mẫu cho toàn thể hệ thống xã hội Trung Hoa – do Khổng giáo đặt ra – là đức hiếu thảo. Đó là một đức tính xã hội chủ chốt đem lại sự bền vững và trường tồn cho hệ thống gia đình và dòng tộc, và qua đó, cho tất cả xã hội. “Sự tử như sự sinh”, nên Hiếu thảo sau khi chết phải được tiếp tục trong cùng một tinh thần như trước, nhưng theo hình thức khác. Người ta tin rằng hồn người chết hiện diện cách nào đó nơi bài vị. Người chịu tang làm những cử chỉ tôn kính trước bài vị: quì gối, cúi đầu, đốt hương và đốt tiền giấy. Vào ngày giỗ, gia đình họp mặt, cúng rượu và thức ăn, sau đó cùng nhau dùng bữa.

– Những lễ nghi tôn kính tổ tiên và Khổng Tử khó mà xác định được theo cái nhìn thần học. Khi các thừa sai bắt đầu công việc rao giảng Phúc âm ở Trung Hoa, họ gặp ngay khó khăn và cần phải đưa ra quyết định: được hay không được thực hành các lễ nghi tôn kính tổ tiên và Khổng Tử. Có những câu hỏi như các lễ nghi đó có ý nghĩa tôn giáo không, hay chỉ là những kỷ niệm về người đã khuất trong tâm hồn con cháu cần phải được trả lời.

– Cuộc tranh luận diễn ra giữa những ai?

Một bên là các giáo sĩ Dòng Tên, một bên là các thừa ai dòng Đa minh và Phanxicô.Phía Dòng Tên cho rằng những lễ nghi tôn kính tổ tiên thực ra tự bản chất không phải là mê tín. Những nghi lễ mà các văn nhân cử hành để tôn kính Đức Khổng Tử phát xuất từ lòng biết ơn đối với Đức Khổng mà thôi.Phía dòng Đa Minh: cho rằng những lễ nghi đó chắc chắn là mê tín và có lẽ là thờ ngẫu tượng.

– Tranh luận thì phải có trọng tài. Các vị thừa sai không giải quyết được vấn đề thì phải trình báo về Toà thánh Rôma.Sau khi dòng ĐM trình về Toà Thánh, Toà thánh ban bố một sắc lệnh yêu cầu tất cả các thừa sai tại Trung Hoa phải tuân phục các nghị quyết cấm các lễ nghi Trung Hoa, nếu không sẽ bị phạt nặng theo giáo luật.

Mười năm sau, đến lượt các tu sĩ dòng Tên đệ trình Toà thánh một bản góp ý. Bản góp ý này nói rằng các lễ nghi ấy hoàn toàn có tính cách dân sự. Kết quả: Toà thánh ban hành một sắc lệnh vào năm 1656 cho phép cử hành các lễ nghi theo như bản đệ trình của các cha dòng Tên.

Hai sắc lệnh nói trên dẫn đến hai phe khác nhau: ủng hộ và chống. Rối loạn trong GH. Nhiều khi căng thẳng.

Thời ấy cai trị ở Trung Hoa là vua Khang Hy. Một đàng thì Toà Thánh ban lệnh cấm, một đàng thi các sứ giả của Toà Thánh thấy vua Khang Hy làm căng quá đến nỗi trục xuất các sứ giả, thì cố tìm cách xoa dịu, điều chính lệnh cấm cho bớt căng thẳng hơn. Một loạt các sắc lệnh, hiến chế, tông hiến… củng cố quyết định cứng rắn của Toà thánh, mãi cho đến 1930 mới tạm lắng, nhưng chưa kết thúc.

– Thời điểm tháo gỡ

Vào ngày 9-12-1939, sáu tuần sau khi công bố thông điệp Summi Pontificatus, với sự chuẩn y của Đức Giáo hoàng Piô XII, Bộ Truyền bá Đức tin đã ra một huấn thị cuối cùng về vấn đề lễ nghi. Huấn thị này, với tựa đề là Plane compertum est (“đã rõ”), bắt đầu bằng cách đưa ra một trong những nguyên tắc phải tuân theo:

“Ở nhiều miền bên phương Ðông, người ta nhận thấy có một vài lễ nghi, dù xa xưa có liên hệ đến lễ điển tôn giáo, nhưng trong hiện tại, vì tập quán và tâm tình đã biến đổi theo thời gian, chỉ còn nói lên lòng hiếu thảo đối với tiền nhân, lòng ái quốc hay sự lịch thiệp đối với tha nhân”.

Huấn thị này làm cho cuộc tranh luận lâu dài về lễ nghi Trung Hoa được kết thúc. Đó là quyết định sau cùng quan trọng nhất trong một chuỗi dài dòng những hiến chế, sắc lệnh, huấn thị, và lệnh truyền trong suốt gần ba thế kỷ (từ 1645 đến 1939).

2. Ở Việt Nam

Vào thời kỳ của vấn đề tranh luận lễ nghi xem ra GH ở VN không bị ảnh hưởng gì mấy. Nhưng nói như thế không có nghĩa là các kitô hữu không thắc mắc về vấn đề.

Các giáo sĩ dòng Tên không lên án những lễ nghi tôn kính Khổng Tử và tổ tiên, trong khi các giáo sĩ dòng Đa Minh và hội Thừa sai Paris tại Việt Nam lại ủng hộ những quyết định của Tòa thánh và mạnh mẽ chống đối những lễ nghi mà họ cho là lạc giáo. So với các hội dòng truyền giáo khác tại Việt Nam, như dòng Tên, dòng Phanxicô, và Thừa sai Paris, các giáo sĩ Đa Minh là những người “máu nhất”, có thái độ tiêu cực nhất đối với vấn đề tôn kính tổ tiên

Ở Đông dương, sau hiến chế Ex illa die (1715), linh mục Giambattista Sanna, dòng Tên, phổ biến một lá thư mục vụ vào năm 1717 cho phép các giáo hữu:

(1) khiêng “bàn gia triệu”[1] trong tang lễ, trên đó có ghi những chữ: “Xin Chúa đưa linh hồn X… về thiên đàng.” Nghi thức này được các giáo sĩ dòng Tên chấp nhận trong gần 100 năm, do đó không thể coi là tà thần hay mê tín;

(2) phủ phục sát đất trước mặt cha mẹ khi các ngài còn sống và trước thi hài khi các ngài đã qua đời; được cúng bái theo phong tục vào ngày Tết hoặc các dịp khác. Những ai không thực hành những việc này thì bị coi như là không giữ giới răn thứ tư. Tôn kính cha mẹ và tổ tiên và cúng giỗ không phải là một tội.

(3) thề khi bị nhà cầm quyền bắt buộc, miễn là phải thề đúng với sự thật. Làm như thế không phải là thờ phượng ma quỉ (x. Chính 2006: 488-490).

Trong lá thư viết năm 1717 sau khi hỏi ý kiến giám mục Francisco Perez (Đại diện Tông tòa tại Đông Dương) về việc cúng giỗ, cha Pierre Heutte, thuộc hội Thừa sai Paris, xác nhận những gì mà các cha dòng Tên đã cho bổn đạo được phép làm, nghĩa là, (1) đúc chuông chùa; (2) may cờ để người ta cắm hai bến lối chính vào chùa; (3) may áo cho các vị sư sãi, ni cô; (4) làm hàng mã để cúng vào tháng bảy; (5) bắn súng làm hiệu tập họp dân chúng đi cúng tế (ibid.).

Một vài nguyên nhân:

- Ảnh hưởng của Tam giáo

Khổng giáo, Lão giáo và Phật giáo như ba cây đại thụ, vươn cành lá lan tỏa che phủ toàn bộ xã hội Việt Nam. Vào thời đó, Kitô giáo, với giáo lý và cơ cấu lạ lẫm, được gieo trồng vào đất này, đã không dễ dàng được chấp nhận. Trong khi đó, nhiều nhà truyền giáo lại muốn hoàn toàn lột bỏ “bộ quần áo cũ kỹ” là Tam giáo. Chính đòi hỏi này – mà người tân tòng coi là “từ bỏ ma quỉ” – đã là một trong những thách đố của việc rao giảng Tin mừng (x. Chính, 2003: 51-52).

Mặc dù các thừa sai thông thạo tiếng Việt, có tâm hồn cởi mở và có khả năng thích ứng để sống ở đất nước này, nhưng đã nhiều năm, các ngài được đào tạo trong Giáo hội Rôma, theo lối sống và tư tưởng Tây phương; các ngài vẫn là người bên ngoài.

“Thà đui mà giữ đạo nhà, còn hơn có mắt ông cha không thờ”. Người ta tin rằng theo đạo là bỏ ông bà, mà bỏ ông bà là bất hạnh lớn.

Một nữ tu Công giáo, tin theo Kitô giáo sau những tranh đấu gay go đau khổ, đã chia sẻ sự khó khăn khi phải vượt qua rào cản của Khổng giáo trong gia đình bà. Khi bà thưa với người cha là bà sẽ theo đạo Công giáo, cha bà không chấp thuận. Ông cương quyết từ chối, “Không được, nếu con vẫn muốn là con cha, con phải thề với cha là không bao giờ theo đạo đó.” Rồi ông đưa ra cho bà một chọn lựa đau đớn, “Nếu con nhất quyết theo đạo Công giáo, thì cha con ta không thể sống chung dưới một mái nhà. Con phải chọn lựa: một trong hai chúng ta sẽ phải rời bỏ mái nhà này” (Thành, 1993: 95).

- Thái độ thù địch của nhà cầm quyền

Nhiều viên quan đã xin Chúa Nguyễn cấm dân chúng theo “tà đạo”, và trục xuất các thừa sai ra khỏi lãnh thổ. Đối với họ, Kitô giáo là một tôn giáo man rợ, đạo ngoại quốc, ngăn cấm người ta tôn kính và tỏ lòng hiếu thảo đối với cha mẹ tổ tiên (Chính, 56).

Có lẽ, trước khi việc ngăn cấm “đạo mới” (Kitô giáo) trở nên gay gắt hơn, việc tôn kính tổ tiên đã là một khó khăn cho vua Gia Long, vì mang ơn giám mục Pigneau là người đã giúp ông dựng xây được vương triều. Ông đau khổ, bực mình, và giận dữ với thái tử, người đã được giám mục Pigneau dạy dỗ nên từ chối thi hành nghi lễ thờ cúng tổ tiên..

Năm 1833, vua Minh Mạng, người kế vị vua Gia Long, viết trong một chiếu chỉ: “Nhiều người Tây phương đến đây rao giảng đạo Kitô. Chúng đánh lừa ngu dân bằng giáo huấn về thiên đàng và hỏa ngục. Chúng không tôn kính và không cúng giỗ tổ tiên. Chúng thực là bọn vô đạo”.

Trong sắc chỉ ban hành năm 1848, vua Tự Đức khẳng định: “Kitô giáo là tà đạo, vì các tín đồ không thờ kính tổ tiên và có nhiều điều mê tín” (Sinh, 1998: 265).

Ây là chưa kể đến một sự kiện nhạy cảm về phương diện lịch sử: Thánh giá và Thanh gươm, sự câu kết giữa thực dân và các nhà turyền giáo: Trên tàu của thực dân luôn có sự hiện diện của giáo sĩ, gọi là lo phần hồn cho binh sĩ, nhưng không ai cấm người ta cắt nghĩa đó là cái bắt tay đôi bên đều có lợi: thực dân thì chiếm đất đai, nhà truyền giáo thì chiếm các linh hồn!

- Mấy ngộ nhận về ngữ nghĩaThêm vào những nguyên nhân trên đây, phải kể đến một vài điểm ngộ nhận về phương diện ngữ nghĩa.

“Tôn giáo” và “Đạo”

Từ ngữ “Đạo” trong tiếng Việt (Religio / Religion: tôn giáo) có nhiều nghĩa khác nhau. Người Việt dùng từ ngữ “Đạo” với nghĩa rộng hơn và đôi khi có nghĩa khác với từ “tôn giáo” của Tây phương. Nó có thể là lề luật (đạo luật), con đường (đạo lộ), lòng sốt sắng (đạo đức), thảo hiếu (đạo hiếu), sự chung thủy (đạo vợ chồng), tôn giáo (đạo Phật, đạo Công giáo…), và cuối cùng, thờ cúng tổ tiên (đạo ông bà). Các thừa sai gán cho thuật ngữ Việt Nam “đạo” cái ý nghĩa của “tôn giáo”, là một hệ thống các giáo điều, cùng với cơ cấu tổ chức.

“Thờ” và “Kính”

Tiếng Hy Lạp phân biệt lateria để chỉ hành vi tôn thờ tối cao dành cho một mình Thiên Chúa. Ngược lại, duleia chỉ về việc tôn kính hay trọng kính dành cho các thánh, các thiên thần. Do đó, đối với các thừa sai ngày xưa, những ai thờ cúng tổ tiên đều bị coi là vô thần (vì họ “thờ” ông bà).

Thế nhưng, quan niệm của Đông phương lại khác. Một từ ngữ có thể có nhiều ý nghĩa khác nhau. Từ ngữ “thờ” có thể dùng để nói về “thờ Trời”, “thờ ông bà”, “thờ cha kính mẹ”, “thờ chồng nuôi con”.

“Cúng” và “Tế”

Trong Cựu ước, lễ vật dâng trong đền thờ có thể là chiên cừu hay bò (Lv 1). Dâng lễ vật cho tổ tiên có thể bị coi là mê tín, vì như thế ông bà tổ tiên được coi là ngang hàng với Yavê.

Trong truyền thống Việt Nam, ông bà tổ tiên đã qua đời được gọi là “quỉ thần” (genii), như trong câu nói: “Xin quỉ thần chứng giám”. Các thừa sai ngày xưa dịch “quỉ thần” thành diabolicum, một từ ngữ tương tự như Satan. Dâng lễ vật (cúng) cho Satan rõ ràng là mê tín. Trong thực tế, người Việt dùng từ “cúng” để chỉ việc dâng lễ vật cho tổ tiên, còn “tế” chỉ cho các thần.

II. ĐẠO HIẾU: ĐIỂM ĐỒNG QUY CỦA CUỘC GẶP GỠ

 

Như chúng ta đã thấy trong lịch sử của vấn đề, dù có những tranh luận về lý thuyết, có những khó khăn từ phía bên ngoài, hoặc nhữg ngộ nhận này khác, nhưng rõ ràng là không có mâu thuẫn hay xung đột giữa Đạo Tổ tiên và Đạo TC. Trái lại, thực sự có sự gặp gỡ giữa hai thực tại.

 

Kể từ khi Tin mừng bắt đầu được rao giảng tại Việt Nam, người Công giáo Việt Nam đã không ngần ngại diễn tả sự tôn kính, biết ơn, và hiếu thảo đối với tổ tiên. Trong Kitô giáo, viên đá góc của việc tôn kính tổ tiên cũng dựa trên chiều kích gia đình và lòng hiếu thảo như trong truyền thống của dân tộc. Chúng ta cùng nhìn vào mấy điểm gặp gỡ giữa hai cái “đạo” ấy.

 

1. Cả hai bên đều coi Hiếu thảo là cốt lõi của đạo tổ tiên

     1. Lệnh truyền hiếu thảo:

Khởi đầu sách Luận ngữ (MỘT trong Tứ thư được cho là do Khổng Tử biên soạn) viết: ‘Một người cư xử hiếu thảo với cha mẹ mình và kính trọng các anh em mình, người ấy ít khi xúc phạm đến các bề trên. Nếu một người không xúc phạm đến bề trên, sẽ không bao giờ gây rối an ninh trật tự xã hội.

Những lệnh truyền này có khác gì luân lý Kitô giáo? Sách Thánh đầy dẫy những lệnh truyền liên quan đến việc kính trọng cha mẹ, lời hứa thịnh vượng và sống lâu cho những ai kính trọng các ngài. Sách Xuất hành 20:12 viết: “Hãy kính trọng cha mẹ ngươi, và ngươi sẽ được sống lâu dài trên đất mà Yavề đã ban cho ngươi.

”Giáo huấn của các rabbi còn đưa ra những giải thích thêm về giới luật này. Thầy Simeon ben Yohai nói: ‘Hãy thảo kính cha mẹ ngươi,’ cho dù ngươi có phải đi xin ăn từ nhà này qua nhà khác’

Chúng ta cũng thấy giáo huấn tương tự trong Tân ước. Đức Giêsu nói với chàng thanh niên giàu có hỏi Người làm thế nào để được sự sống đời đời: “Hãy thảo kính cha mẹ” (Mt 19:19). Thánh Phaolô viết cho giáo đoàn Êphêsô: “Hỡi những người làm con, hãy vâng phục cha mẹ trong Chúa. Vì đó là điều phải lẽ. Giới răn thứ nhất nói, ‘Hãy thảo kính cha mẹ thì ngươi sẽ được hạnh phúc và sống lâu trên đất’” (Ep 6:1-3).

     2.  Lên án và trừng phạt bất hiếu

Trong khi những người con hiếu thảo nhận được phúc lành đã hứa, thì những người con bất hiếu sẽ bị trừng phạt nặng nề. Sách Xuất hành cảnh báo: “Kẻ nào đánh đập cha mẹ sẽ phải chết. Kẻ nào nguyền rủa cha mẹ sẽ phải chết” (21:15,17). Sách Lêvi cũng tuyên án phạt tương tự cho những kẻ mắng nhiếc cha mẹ: “Kẻ nào nguyền rủa cha mẹ sẽ phải chết. Nó đã nguyền rủa cha mẹ. Nó sẽ phải đổ máu” (20:9). Nếu sách Châm ngôn của Solomon không nói đến hình phạt, thì cũng dành cho người con bất hiếu những lời nặng nề: “Ai nguyền rủa cha mẹ sẽ thấy ngọn đèn của mình tắt lịm giữa tối tăm” (20:20).

Tin mừng theo thánh Mátthêu chấp nhận lập trường của nền luân lý cũ. Khi các văn nhân và những người Biệt phái chất vấn Chúa Giêsu về truyền thống Do Thái, Người trả lời: 

Thiên Chúa đã truyền: ‘Hãy thảo hiếu cha mẹ,’ và ‘kẻ nào nguyền rủa cha mẹ sẽ phải chết.’ Nhưng các ông lại bảo bất cứ ai nói với cha mẹ mình rằng: ‘Những gì cha mẹ mong đợi nơi tôi, tôi đã dành cho Đền thờ.’ Trong trường hợp này, theo các ông, người ấy được miễn khỏi phụng dưỡng cha mẹ mình. Và như vậy, các ông đã phế bỏ lệnh truyền của Thiên Chúa mà thay thế bằng truyền thống của các ông” (Mt 15:3-6).

2. Nội dung bổn phận hiếu thảo 

     1. Phụng dưỡng và nghe lời

Con cái phải làm gì để tỏ lòng thảo hiếu với cha mẹ? Phải chăng chăm sóc cha mẹ là việc quan trọng nhất? Khổng Tử dường như đặt việc đó xuống hàng thứ hai: “Thảo hiếu ngày nay có nghĩa là nuôi dưỡng cha mẹ. Chúng ta cũng có thể nuôi dưỡng con chó con ngựa mà không có lòng kính trọng, vậy có gì khác biệt giữa việc nuôi dưỡng cha mẹ và nuôi dưỡng súc vật?” (Luận ngữ, II, 7).[Mẹ còn thì chẳng cho ăn! Đến khi mẹ chết làm văn tế ruồi!]

Điều làm cho cha mẹ hạnh phúc khi còn sống là con cái biết nghe lời. Theo tư tưởng của Khổng Tử, thảo hiếu không phải là không vâng lời. “Mạnh Tử hỏi hiếu thảo là gì, Tử đáp, “Không phải là không vâng lời’” (Luận ngữ, II, 5). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là con cái phải vâng lời vô điều kiện. Khổng Tử dạy các học trò: “Nếu cha mẹ dạy bảo có điều sai, con cái phải nói lại cho cha mẹ biết, phải sửa sai” (Luận ngữ, IV, 18).

Giáo huấn của Khổng Tử tương tự như giáo huấn trong sách Châm ngôn: “Con ơi, hãy lắng nghe lời dạy bảo của cha con, đừng lơ là giáo huấn của mẹ con” (Cn 1:8), hoặc, “Hãy tôn trọng lời dạy dỗ của cha con, và đừng khinh thường lời dạy dỗ của mẹ con. Hãy ghi nhớ trong trái tim con và đeo chung quanh cổ con. Những lời dạy bảo ấy sẽ gìn giữ bước chân con, bảo vệ con khi con ngủ và nói với con khi con thức” (Cn 6:20-22).

Thánh Phaolô cũng chỉ dạy giống như thế: “Hỡi con cái, hãy vâng lời cha mẹ trong mọi sự, vì điều đó làm đẹp lòng Chúa” (Cl 3:20). Người cũng khuyên nhủ những người làm cha làm mẹ: “Hỡi các bậc cha mẹ, đừng đòi hỏi con cái, kẻo chúng chán nản” (3:21).

     2. Về tang chế

Con cái phải tiếp tục thảo kính cha mẹ sau khi các ngài qua đời cũng như khi các ngài còn sống. Khổng Tử trả lời Sài Ngô khi ông này hỏi về tang chế, “Thời tang chế, người quân tử ăn đồ ăn ngon mà không thấy ngon; nghe nhạc mà không thấy thích; ở trong nhà mà không thấy vui” (Luận ngữ, XVII, 23).

Sách Huấn ca cũng đưa ra bằng chứng về việc kính trọng và than khóc người chết: “Hỡi con, hãy than khóc người chết, than khóc để bày tỏ sự buồn sầu của con và chôn cất người chết với lễ nghi xứng hợp…” (Hc 38:16-17).

Thảo hiếu với cha mẹ đã qua đời và bày tỏ lòng yêu mến các ngài không phải chỉ bằng nghi tiết tang chế, nhưng nhất là bằng lòng tôn kính biết ơn để tưởng nhớ các ngài.

     3. Cả hai cùng đề cao giá trị của hiếu thảo

Còn nói về giá trị trổi vượt của hiếu thảo, Cuốn sách viết về lòng hiếu thảo ca ngợi đức hiếu: “Hiếu thảo là nhân đức thứ nhất của trời, là tiêu chuẩn tối hậu của đất, là chuẩn mực cư xử của con người” (chương VII).

Như thế là sách Luận ngữ nhắc chúng ta nhớ đến sách Châm ngôn của Solomon “Người con trai khôn ngoan là niềm vui của người cha, người con ngu dốt làm buồn lòng mẹ” (10:1).

Cần lưu ý rằng giới răn này chiếm vị trí thứ nhất trong bảy giới răn bàn về mối tương quan liên nhân vị. Vị trí quan trọng của cha mẹ còn được nhấn mạnh thêm qua thuật ngữ “thảo kính” (kabod trong tiếng Do Thái: 1 Sm 2:30; Is 24:15). Đây là một động từ mà trong Cựu ước thường được dùng với Thiên Chúa là đối tượng, và ta hiểu ngay giá trị của thuật ngữ khi ta biết rằng danh từ thường được dùng để chỉ vinh quang và danh dự của Yavê thì phát xuất từ cùng một gốc: kabod (Xh 16:10; Is 6:3). Cha mẹ được kính trọng một cách đặc biệt, phản ánh qua thái độ và cách cư xử của con cái. Bởi vì cha mẹ mang trong mình sự phản chiếu kabod (vinh quang) của Thiên Chúa,

Còn phải nói thêm nhiều điều về Đức Giêsu và giới răn thứ tư này. Có lẽ nên biết rằng chính Đức Giêsu đã tuân giữ giới răn này một cách tỉ mỉ. Đức Giêsu qua đời năm 33 tuổi, và trong 33 năm này, Người đã sống không ít hơn 30 năm tại quê nhà ở Nazareth. Tại sao phải như thế? Có lẽ là vì ông Giuse, thân phụ Người, đã qua đời khi còn trẻ. Do đó, là người con trưởng, Đức Giêsu có nhiệm vụ phải phụng dưỡng thân mẫu. Người đã trung thành và tận tụy thi hành bổn phận đối với gia đình và thân mẫu, và trong Tin mừng Gioan, chúng ta thấy Người, dù đang chịu treo trên thập giá, vẫn nghĩ đến thân mẫu mình (Ga 19:26-27). Thảo hiếu là một giới răn mà Đức Giêsu dạy người khác giữ, và chính Người đã tuân giữ.

Từ việc gợi lại chủ ý của Thánh kinh về giới răn thứ tư, Giáo hội mở ra ý nghĩa thiêng liêng phong phú của giới răn ấy, và vì thế, nói chung đã có thể có những hỗ trợ về mặt mục vụ cho đời sống gia đình, cái nôi của việc tôn kính tổ tiên như tại Việt Nam. 

III. HỘI NHẬP: TRUNG THÀNH VỚI TIN MỪNG, GẮN BÓ VỚI VĂN HOÁ DÂN TỘC

Cuộc gặp gỡ giữa Tin mừng và văn hóa tại Việt Nam, một mặt, gần như một cuộc đụng chạm giữa hai thực tại, không phải không gây ra những hiểu lầm và khó khăn, nhưng mặt khác, lại khơi lên những yếu tố tích cực khi cả hai tương tác với nhau.

1. Giáo huấn của Giáo hội trước Công đồng Vatican II

Phúc âm hóa các nền văn hóa là một mối ưu tư trường kỳ của Giáo hội, thậm chí ngay từ những thế kỷ đầu tiên. Chúng ta đã quen thuộc với nhiều chỉ dẫn của Công đồng Vatican II, của các Đức Giáo hoàng Phaolô VI, và Gioan Phaolô II, cùng nhiều văn kiện khác của Tòa thánh. Ở đây chỉ xin gợi lại một vài giáo huấn thú vị đáng chú ý từ trước Vatican II, thậm chí có thể khiến cho chúng ta ngạc nhiên là Giáo hội đã ý thức được vấn đề này từ khá sớm!

     1. Thư gửi Diognetus (khoảng thế kỷ thứ 3)

Một trong những văn bản sớm nhất của Giáo hội cổ xưa, Thư gửi Diognetus, khắc họa hình ảnh người kitô hữu như là những công dân biết thích nghi – một từ ngữ khác mà ngày nay gọi là hội nhập văn hóa – với những phong tục và lối sống của thời đại. Họ cố gắng để khỏi khác biệt với đồng bào của mình, mặc dù họ tự xưng mình là “công dân của nước Trời”:

Các kitô hữu không khác người ta về xứ sở, ngôn ngữ và tập quán trong đời sống (…) Họ theo tập quán của dân địa phương trong cách ăn mặc và trong lối sống, mà vẫn cho thấy một nếp sống lạ lùng và ai cũng phải nhận là khó tin. Họ sống ở quê hương mình mà như những khách kiều cư. Họ có chung mọi thứ như công dân, nhưng phải gánh chịu đủ thứ như khách lữ hành. Miền đất lạ nào cũng là quê hương của họ, nhưng quê hương nào cũng là đất khách đối với họ.

     2. Huấn thị của Bộ Truyền bá Đức tin (Propaganda Fide) năm 1659

Trong một huấn thị gửi cho các vị Đại diện Tông tòa và các thừa sai ở miền Viễn Đông, Bộ Truyền bá Đức tin đã đề cập một cách thực tiễn đến vấn đề hội nhập văn hóa trước khi từ ngữ này xuất hiện:

Đừng cố gắng bằng mọi cách, cũng đừng viện bất cứ lý do nào để thuyết phục các dân tộc này thay đổi các lễ nghi, phong tục và tập quán của họ, trừ khi những thứ ấy rõ ràng đối nghịch với tôn giáo và phong hóa. Bởi vì còn gì phi lý hơn khi quí vị đem nước Pháp, Tây Ban Nha, Ý, hay bất cứ một quốc gia châu Âu nào nhập vào Trung Hoa! Quí vị đừng đem đất nước của quí vị, nhưng hãy đem đến đức tin của quí vị, mà đức tin thì không bài bác hay coi thường những nghi lễ hay phong tục của bất cứ quốc gia nào miễn là những nghi lễ ấy không phải là xấu xa, nhưng tốt hơn, quí vị hãy mong muốn cho những nghi lễ ấy được bảo tồn và nuôi dưỡng trong sự tinh tuyền của chúng (…) Không có nguyên nhân nào khiến người ta xa lánh và thù ghét cho bằng thay đổi phong tục của một đất nước, nhất là khi những phong tục ấy gợi lại ký ức về tổ tiên.

2. Thời kỳ liền trước Vatican

- Tư tưởng của Giáo hội hiện đại về sự gặp gỡ giữa sứ điệp Tin mừng và văn hóa nhân loại được khai triển mạnh mẽ khi đức Benedict XV công bố thông điệp Maximum Illud (30-11-1919). Vào thời đó, các hội dòng truyền giáo ca ngợi thông điệp này như là một tuyên ngôn quan trọng nhất của Giáo hoàng về việc truyền giáo trong thời đại mới:

Mối quan tâm chính yếu của các vị điều hành các xứ truyền giáo là phải gây dựng và huấn luyện một hàng giáo sĩ ở giữa những quốc gia nơi các vị ấy cư ngụ, vì đây là nền tảng những hy vọng tốt nhất cho Giáo hội trong tương lai. Khi liên kết với đồng bào của mình bằng mối dây nguồn gốc, đặc điểm, tình cảm và khuynh hướng, vị linh mục bản xứ sẽ có được những khả năng hết sức đặc biệt để giới thiệu đức tin đến cho tâm trí đồng bào, và có khả năng thuyết phục những người khác về những điều cao trọng hơn. (AAS 11 [1919]: 440-455).

Đức Giáo hoàng mạnh mẽ chống đối cái gọi là “Âu châu hóa,” sự thống trị văn hóa do các thừa sai Công giáo áp đặt. “Các vị này phải nhớ rằng các ngài là thừa tác viên của Chúa Kitô, chứ không phải là thừa tác viên của đất nước các ngài. Mục đích của các ngài là “thu phục công dân cho vương quốc nước trời, chứ không phải cho vương quốc trần thế.” Các thừa sai phải mở rộng vinh quang Nước Chúa, chứ không phải vinh quang của đất nước các ngài. (ibid.) 

- Người ta không bao giờ có thể đánh giá được đầy đủ giá trị khích lệ mà thông điệp Maximum Illud của đức Giáo hoàng Benedict XV đem lại cho các hội dòng truyền giáo. Tuy nhiên, chính đức Piô XI (1857-1939) mới được biết đến như là vị “Giáo hoàng của các xứ truyền giáo.” Chính ngài đã gặt hái được những thành quả mà đức Benedict đã gieo trồng. Người là vị Giáo hoàng đầu tiên đã phong chức cho các giám mục Trung Hoa, Nhật Bản, và Ấn Độ, vốn được đào tạo tại các chủng viện mà đức Benedict đã truyền thiết lập. Ngay hồi đầu triều Giáo hoàng của ngài, trong một nghi lễ đặc biệt, ngài đã phong chức cho 12 giám mục, nguyên quán thuộc các quốc gia mà các ngài sẽ được sai đi truyền giáo.

Đức Piô XI tỏ ra chú trọng tới hoạt động của Giáo hội ở kỷ nguyên truyền giáo mới. Trong thông điệp Summi Pontificatus 20-10-1939, ngài nói tới ‘văn minh’ và ‘phong tục’: “Cần phải hiểu biết sâu sắc về nền văn minh và các thể chế của các dân tộc, và cổ võ những phẩm tính và tài năng của họ… Tất cả những phong tục nào không nhuốm màu sắc mê tín hoặc sai lầm, thì phải nghiên cứu với lòng nhân từ và nếu có thể, gìn giữ cho nguyên vẹn” (AAS 31 [1939]: 529). Quan điểm của Đức Giáo hoàng là hết sức rõ ràng: “Vị sứ giả của Phúc âm và của Chúa Kitô là một người tông đồ. Nhiệm vụ của ngài không phải là gieo trồng nền văn minh và văn hóa Âu châu hay cái gì khác ở miền đất nước ngoài, nơi mà Phúc âm phải bén rễ và được quảng bá.” Và những lời sau đây cho thấy một cái nhìn cởi mở của Đức giáo hoàng: “Cư dân Công giáo ở các xứ truyền giáo, mặc dù là những người đầu tiên trong tất cả các công dân của Nước Trời và phần tử của đại gia đình, nhưng họ vẫn luôn luôn là những công dân của tổ quốc trần gian” (ibid.).

Một cột mốc trong sự phát triển ý thức về hội nhập văn hóa được Đức Piô XII (1867-1958) phát biểu với các vị Giám đốc các Hoạt động Truyền giáo vào ngày 24 tháng 6 năm 1944. Phát biểu này quan trọng vì có lẽ đây là lần đầu tiên Giáo hội chính thức đề cập đến vấn đề thích ứng trong truyền giáo:

Những đặc điểm, những truyền thống, những phong tục của mỗi quốc gia phải được duy trì nguyên vẹn, bao lâu chúng không trái ngược với lề luật Chúa. Nhà truyền giáo là một tông đồ của Chúa Giêsu Kitô. Công việc của ngài không phải là quảng bá văn minh Âu châu ở các xứ truyền giáo, như là trồng cây vào mảnh đất xa lạ. Đúng hơn, nhiệm vụ của ngài là đào tạo và hướng dẫn các dân tộc khác, trong số họ có những người nổi danh trong nền văn minh cổ xưa và tinh túy của họ, để chuẩn bị họ sẵn lòng đón nhận các nguyên tắc sống và cách hành xử Kitô giáo (AAS 36 [1944]: 210).

Lời kêu gọi của Đức Giáo hoàng trở nên khẩn thiết hơn khi ngài công bố thông điệp Evangelii Praecones 02-06-1951, nhân dịp kỷ niệm 25 năm thông điệp Rerum Ecclesiae. Đức Giáo hoàng đề cập tới vấn đề văn hóa bằng cách đảo ngược thí dụ của thánh Phaolô về cành ôliu dại (Rm 11:17-21). Người nói, thay vì ghép cành dại vào cây gốc, thì phải ghép cành gốc vào cây dại để cả cây được biến đổi. Giáo hội “ghép chồi tốt vào gốc dại để sinh ra hoa trái tốt lành hơn” (AAS 43 [1951]: 509-510). Thông điệp đưa ra một nguyên tắc căn bản cho vấn đề thích ứng truyền giáo: “Chúng ta phải giữ nguyên tắc rất khôn ngoan là khi dân chúng chấp nhận sứ điệp (Tin mừng), chúng ta đừng phá hủy những điều tốt, xứng đáng, tốt đẹp trong cách sống và tinh thần bản xứ” (ibid.).

- Đức Giáo hoàng Gioan XXIII, vị Giáo hoàng của đoàn sủng, trong thông điệp Princeps Pastorum (1959), khích lệ các chủng sinh “học những ngành khác nhau của khoa Truyền giáo học” trong các chủng viện địa phương “để có thể đánh giá đúng đắn những truyền thống văn hóa của quê hương họ” (AAS 51 [1959]: 840). Đây là vấn đề một Giáo hội đa văn hóa và sự bình đẳng giữa các nền văn hóa khác nhau trong Giáo hội. Người ta có thể thấy mầm giống của văn hóa đa nguyên trong Giáo hội rõ rệt bắt nguồn ở đây.

Trong những năm liền trước công đồng Vatican II, “thích nghi” không chỉ là một hình thức trong chính sách ngoại giao hay chiến lược truyền giáo của Giáo hội. Một khi nhìn nhận sự đa dạng văn hóa trong nhân loại, người ta có thể thấy thích nghi là một điều kiện thiết yếu của Công giáo tính. Một Phúc âm cứu độ phải được loan báo cho con người thuộc những nền văn hóa khác nhau và được họ hiểu và sống. Thích ứng nhất thiết phải là một đặc điểm trường tồn của hoạt động truyền giáo.

Các văn kiện khác nhau của các Đức Giáo hoàng dần dần hướng hoạt động truyền giáo về các giáo hội địa phương và dọn đường cho cuộc đột phá mới xảy ra tại công đồng Vatican II.

3. Vài cách diễn tả dựa trên nền tảng thần học - Thánh Kinh

Khi Tin mừng gặp gỡ nền văn hóa bản địa, khi đức tin Kitô giáo gặp gỡ tập tục tôn kính tổ tiên, nhu cầu phúc âm hóa văn hóa nảy sinh, không phải như một chiến lược để Kitô giáo tồn tại, nhưng để là hiện diện trong môi trường văn hóa theo một cách thức mới, hay là để thực hiện tiến trình “nhập thể” vào trong khung cảnh sống của con người tiếp nhận Tin mừng. Cuộc gặp gỡ này, muốn đạt được kết quả, tất yếu phải dựa trên nền tảng và những nguyên tắc được hướng dẫn từ nguồn thần học và Thánh kinh. Căn cứ vào nền tảng và những nguyên tắc ấy, chúng ta có thể rút ra từ lịch sử những hình thái hội nhập văn hóa xảy ra ở những cấp độ khác nhau.

     1. Nhìn TC : Suối nguồn tình phụ tử

Chúa Giêsu đến để thiết lập gia đình của Thiên Chúa trong đó Thiên Chúa là Cha Người và cũng là Cha chúng ta. Các tín hữu là thành viên, con cái của gia đình Thiên Chúa.

Chúa Cha là nguồn cội của nhân loại. Như vậy, xét cho cùng, tôn kính tổ tiên chính là làm vinh danh, là biết ơn, là tỏ lòng thảo hiếu đối với nguồn cội của mình. Khi thực hiện hành vi thảo hiếu, người kitô hữu muốn đi tới nguồn cội đích thực của mình, tức là Thiên Chúa, vì từ nơi Người phát sinh mọi tình phụ tử. Tình phụ tử của Thiên Chúa không loại trừ mọi tình phụ tử trần gian, nhưng bao gồm tất cả, và ban cho tình phụ tử của con người tình yêu Thiên Chúa như là một đặc tính nổi bật (ibid.). Như thế, khi tôn kính tổ tiên, không phải là chúng ta hàm ý tôn vinh Thiên Chúa, suối nguồn của mọi tình phụ tử và mẫu tử sao?

Tuy nhiên, việc tôn kính ông bà tổ tiên không thể xếp ngang hàng với việc tôn thờ Thiên Chúa. Hiểu như thế sẽ giúp chúng ta nhận ra rằng tôn kính tổ tiên không trái ngược với đạo lý Công giáo, nhưng vén mở những nét đặc thù của Đông phương, đặc biệt là của lòng hiếu thảo nơi người Việt Nam. Đồng thời, khi việc tôn kính này được hội nhập vào trong đời sống Kitô giáo, thì những giá trị luân lý cùng với những biểu hiện của nó sẽ hội tụ lại nơi Nguồn cội Tối cao của các thụ tạo.

     2. Nhìn Đức Giêsu, Trưởng tử

Xã hội Việt nam trước đây chịu ảnh hưởng bởi nền luân lý mang màu sắc chính trị – xã hội của Khổng giáo.  Nhưng cũng nhờ đó, chúng ta có thể khẳng định và siêu việt hóa việc tôn kính tổ tiên ở Việt Nam – trong đó đạo hiếu là cốt lõi – bằng cách vận dụng hình ảnh Chúa Giêsu là Trưởng tử của chúng ta.

Mặc dù Cựu ước không cổ võ việc thờ kính tổ tiên, và Chúa Giêsu cũng chẳng giáo huấn gì về việc tôn kính tổ tiên, nhưng không có gì trở ngại nếu chúng ta nhìn nhận Người là mẫu người chu toàn đạo hiếu, vì Người có mối liên hệ mật thiết với Chúa Cha. Hơn nữa, việc Chúa Giêsu không kết hôn và không có con cái cũng không có nghĩa là vì thế mà Người thiếu sót bổn phận thảo hiếu. Gia đình Việt Nam cho phép nhận con nuôi như là một giải pháp! Trong trường hợp Chúa Giêsu, chúng ta được nhận là anh chị em của Người để chia sẻ với Người bổn phận tôn thờ dành cho Cha Người. Nhìn theo cách này thì quả thực Người là “trưởng tử giữa mọi thụ tạo,” “trưởng tử giữa một đoàn em đông đúc”. Tất nhiên hình ảnh này phải được hiểu theo nghĩa loại suy.

     3. Nhìn dưới tác động của Thánh Thần: hiệp nhất trong khác biệt

Biến cố Ngũ tuần, nguồn mạch của sự hiệp nhất và đa dạng, “đưa các cộng đồng dân tộc, ngôn ngữ và văn hóa khác biệt lại gần nhau” (TAC, 1994:53). Việc tôn kính tổ tiên ở Việt Nam mang ý nghĩa hiệp nhất và liên đới không những giữa người sống và kẻ chết, mà còn giữa những người sống với nhau. Việc các phần tử trong gia đình, trong gia tộc qui tụ lại vói nhau nhân dịp đám tang hay lễ giỗ thường là những cơ hội thuận tiện để cổ võ tình liên đới, để hòa giải những bất đồng, xóa bỏ thành kiến hoặc hiểu lầm, đặc biệt là để liên kết giữa những người phải sống xa quê hương vì lý do làm ăn.

Những cuộc qui tụ để cử hành việc tôn kính tổ tiên như thế sẽ không mang ý nghĩa sự hiệp nhất gia đình nếu người ta không đem đến hoa quả của Chúa Thánh Thần là “bác ái, hoan lạc, bình an, nhẫn nhục, nhân hậu, từ tâm, trung tín, hiền hòa, tiết độ” (Gl 5:22-23). Trong chiều hướng đó, việc tôn kính tổ tiên, xét như là nét đặc thù của một nền văn hóa đặc thù, sau khi được thanh tẩy khỏi những hàm hồ và sai lầm, có thể làm giàu cho đức tin Kitô giáo.\

     4. Nhìn trong chiều kích Giáo hội: sự hiệp thông các thánh

Do đó, việc tôn kính tổ tiên có ý nghĩa trọn vẹn trong bối cảnh đức tin và cộng đoàn tín hữu. Cộng đoàn những người còn sống sẽ không hoàn toàn nếu không tưởng nhớ

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi