Chuyên đề: Chúa Cha-Abba

Về Chúa Cha, phần một, Nhận biết Thiên Chúa

Ngày đăng:04-04-2017 |4:08 AM | 746 Lượt xem

Phần một

Nhận biết Thiên Chúa Abba

1. Vấn đề hàng đầu : Yêu mến Chúa

Trong Phúc âm theo thánh Gio-an, Đức Giê-su đã nói : Sự sống đời đời là nhận biết Cha là Thiên Chúa duy nhất và chân thật (Yn 17,2). Đã nói đến sự sống đời đời, đấy là điều quan trọng nhất, vậy cần tìm hiểu về Thiên Chúa Cha. Kinh chúng ta cũng vẫn đọc : Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự. Trong đạo công giáo, việc trước hết phải làm là kính mến Chúa.Thường thường chúng ta chú ý đến việc thờ phượng, ca ngợi và khẩn cầu Người, chúng ta không đặt trọng tâm vào việc yêu mến Người, tuy Thiên Chúa là Tình yêu. Thờ phượng, ca ngợi, khẩn cầu, tung hô,  những điều ấy là rất đúng rất cần, nhưng đã đủ chưa ? Như trên đã nói : Trước kính mến một Đức Chúa Trời trên hết mọi sự... Chẳng phải vấn đề quan trọng nhất là kính mến, là yêu Thiên Chúa Cha hay sao.

Đây là một đặc điểm quan trọng của đạo công giáo, nghĩa là đặt ưu tiên cho tình yêu Chúa. Ta hãy xem kỹ quanh ta thôi : thờ phượng thì các đền đài khắp nơi ở Việt Nam ta đều thấy đầy, ca ngợi tung hô khẩn cầu nhiều khi còn long trọng sốt sắng hơn trong các nhà thờ chúng ta, nhưng mà riêng yêu mến Ông Trời, Đức Phật, các Mẫu hay các thành hoàng thì tuyệt nhiên  không có. Không có nói đến tình yêu trong các đình đền miếu.Không ai nói đến yêu Ông Trời, yêu Đức Phật, yêu các Mẫu, yêu các Thành hoàng. Những ngày lễ ở Kiếp bạc chẳng hạn, cách xa 5 km, đã có thể nhìn thấy khói hương bốc lên như đám mây, cảnh vái vái lạy lạy ở chùa Hương hay chùa Thầy hay Tây Hồ còn nhiều và nhanh hơn máy : Ta không nghe thấy một lời yêu thương bao giờ. Còn các từ “yêu Chúa” “mến Chúa” thì luôn thấy trong kinh sách nơi chúng ta cầu nguyện. Và tất cả giáo dân đều được cho biết là : thờ phượng, ca ngợi, tung hô Thiên Chúa là quan trọng, nhưng quan trọng nhất vẫn phải là yêu mến Chúa, hay đúng hơn phải thờ phượng, ca ngợi tung hô trong tình yêu. Yêu mà thờ phượng, yêu mà ca ngợi, yêu mà tung hô, yêu mà khẩn cầu.

Nhiều người vẫn cho đi đạo là để "cầu xin". Họ cho rằng “cầu xin” là mục đích. Vì vậy khi ta cứ đặt vấn đề “ xin” là chính, thế thì có đúng không? Nhiều người đi đạo,chỉ hay đến cùng Đức Maria để xin, có phải là đúng nhất không? Phúc âm bảo phải xin cùng ai? Nên xem lại các đoạn Phúc âm nói đến “sự xin” (thí dụ xem Mt 7, 7-11 ; Lc 11, 9-12 ; Mt 6, 7-8), Phúc âm bảo phải xin cùng ai, chẳng phải là phải xin cùng Cha anh em trên trời hay sao.  Phúc âm còn bảo Thiên Chúa là Cha chúng ta, Người biết chúng ta cần gì ngay trước khi chúng ta xin, ta không phải lải nhải như dân ngoại. Chúng ta chẳng chịu nghe Phúc âm, cứ nghe theo đâu đâu, ta cần xem lại cái kiểu theo không chính đáng linh tinh ấy, cần căn cứ vào Phúc âm là chính yếu. Mà Phúc âm thì căn bản là dạy chúng ta phải yêu mến Cha. Trước kính mến một Đức Chúa Trời...

2. Sự tiến triển trong cách gọi tên Thiên Chúa

Xin trở lại vấn đề quan trong nhất trong đạo : là phải yêu mến Chúa trên hết mọi sự. Nhưng Chúa là ai ? Thiên Chúa là ai ? Ngày nay thực tế trong công giáo, theo lời dạy của Đức Giê-su, là phải yêu mến Thiên Chúa Cha, Thiên Chúa là Cha, Abba. Bởi vì về Thiên Chúa, thì  có nhiều cách gọi, tuỳ theo nơi, tuỳ theo thời. Qua lịch sử đạo, đã có một quá trình rất dài dẫn đến biết Thiên Chúa là Ai. Ta nên chú ý đến quá trình này.

Đầu Kinh Thánh cũ (nghĩa là Cựu ước), có một nguồn trong Mười Một chương đầu Sách Sáng Thế,Thiên Chúa được goị bằng tên là Êlôhim, là Đấng dựng nên trời đất muôn vật, một cách rất dân dã. Êlôhim lấy bùn nặn thành hình con người, hà hơi cho sống, hay lấy xương sườn con người làm ra người nữ...rất dân dã, thô sơ. Kỳ ấy người ta mới hiểu Thiên Chúa được như thế mà thôi. Đến thời Môsê thì gọi là Thiên Chúa là Gia-vê. Chúng ta nhớ câu chuyện Bụi Gai. Thiên Chúa hiện ra với Môsê trong một bụi gai, khi Môsê hỏi tên Người là gì : Người bảo Môsê biết tên Người là Gia-vê. Dần dần ta biết Gia-vê là Đấng tự hữu, Đấng dựng nên mọi sự, hằng có đời đời, săn sóc con người và lịch sử con người, thưởng kẻ lành phạt kẻ dữ, là Đấng công thẳng, đáng kính đáng sợ, nhưng không phải là Cha. Đến thời Đavít rồi đến Ysaia, nhất là Hôsê, Yêrêmia đã có một  tiến bộ lớn, gọi Gia-vê là Ab (cha), Abi (cha tôi), là cha kiểu phong kiến, vẫn còn rất nhiều sợ hãi. Ab hay Abi còn hay phạt nặng nề, thí dụ bắt phải bị tai họa, xâm lăng hay đi đầy ở Babylon. Đọc Cựu ước, kể cả thời các tiên tri, chúng ta thấy Israel đã nhận biết Thiên Chúa là Cha (Ab), nhưng còn gặp đầy rẫy những lời đe dọa, chúc dữ cho Israel và các dân tộc chung quanh. Đọc sách Các Thẩm Phán rồi các Vua, còn thấy Thiên Chúa vẫn là Đấng đáng kinh, đáng khiếp, đáng sợ. Chúng ta hãy nghĩ đến quyền làm cha mẹ thời phong kiến trước đây trong nước ta, con cái phải khúm núm trước cha mẹ, đi qua trước mặt phải cúi đầu, thưa gửi phải khoanh tay, lớn rồi cũng phải nằm xuống chiụ đòn, phải sợ hãi. Xưa dân Israel đối với Gia-vê tuy gọi là Cha nhưng là cũng kiểu như thế.

Đức Giê-su thì gọi Thiên Chúa là Abba, là tiếng trẻ em gọi bố  cách rất thân thiết, tha thiết, thân mật, thân yêu, rất nhiều tình cảm. Abba, cha ơi ( như bản dịch mới Tân ước đã dùng, chứ không phải là Lạy Cha, lạy... thì vẫn còn là phong kiến). Con cái ta 3 hay 4 tuổi có tâm tình với cha mẹ thế nào, chúng ta biết. Các em xà vào lòng bố lòng mẹ, bá cổ ôm hôn âu yếm, các em không nói với bố là “lạy Cha”, Đức Giê-su thì muốn chúng ta có tâm tình với Chúa Cha như trẻ em với bố mẹ, biết bao thân mật, yêu thương, thân thiết tha thiết. Các em gọi là bố, là ba, theo tiếng do thái thì là Abba.

Người công giáo chúng ta (phương chi người không công giáo) không để ý đến quá trình hiểu biết Thiên Chúa dần dần qua bao giai đoạn như thế này : Chúng ta cứ dùng tên chỉ Thiên Chúa như nhau, tiện tên nào thì dùng tên ấy. Ta dùng tên “Thiên Chúa” chung chung không phân biệt. Thí dụ ta dùng chữ Thiên Chúa Cha, cần phải phân biệt Thiên Chúa Cha Ab của các tiên tri thì khác, mà Thiên Chúa Cha Abba của Đức Giê-su thì khác. Phương chi khi ta dùng : Thiên Chúa là Đấng toàn năng hằng hữu (là Gia-vê) thì khác, là đúng nhưng là khác với Thiên Chúa nhân hậu từ bi (là Abba). Khi ta dùng Thiên Chúa là Chúa Tể càn khôn, nghĩa là Chúa trời đất (là Êlôhim) , vẫn là đúng thôi, nhưng là khác với Thiên Chúa Cha (dù là Ab hay Abba). Cần phân biệt cho rõ ràng. Cần dùng cho đúng chỗ, đúng lúc, đúng văn cảnh.

Trong tập này, có mấy điều căn bản cần chú ý. Điều thứ nhất là : Cần phải thấy sự tiến triển của ý thức con người về Thiên Chúa. Có một tiến triển từ Êlôhim, đến Gia-vê, đến Ab rồi đến Abba. Abba là Cha của Đức Giê-su cũng là Cha của chúng ta. Đọc Kinh Thánh qua các sách, các thời đại, cần nhận ra sự tiến triển ấy. Đã mất hàng nghìn năm cho cuộc tiến triển như vậy. Abba là đỉnh cao cuối cùng, không được lẫn lộn. Đức Giê-su cầu nguyện bao giờ cũng là với Abba của Người. Ngày nay chúng ta cũng phải cầu nguyện cùng Thiên Chúa với danh hiệu Abba, và có tâm tình là con của Abba, chứ không phải là Êlôhim, Gia-vê, Ab, hay Thiên Chúa toàn năng mà thôi.

Giáo Hội hằng giáo dục cho giáo dân tiến dần trong cuộc học hỏi về Thiên Chúa, bao gồm mọi chặng đường đi từ Êlôhim đến Abba. Ta thử theo dõi riêng về thánh lễ Misa thì thấy : Vào phần dâng lễ thì nói đến Chúa Tể càn khôn (nghĩa là Chúa trời đất, càn khôn là trời đất), thế là nói đến Êlôhim hay Ông Trời, vì liên hệ đến đất, nước, cây cỏ, bánh, rượu và lao động của con người... Rồi cuối kinh Tiền tụng, ta thấy nói đến Gia-vê là Đấng thánh thánh thánh. Đây là thời tiên tri Isaia. Chúng ta biết Isaia mạc khải cho ta biết tính chất căn bản của Thiên Chúa là Đấng thánh. Rồi vào Kinh Nguyện Tạ Ơn thì liên tục nói đến Thiên Chúa Cha (xem lại các Kinh nguyện Tạ ơn thì thấy ngay). Nói đến Chúa Cha nhưng bao giờ cũng trong/cùng/với Đức Giê-su và Chúa Thánh Thần. Vào phần Rước lễ, thì rõ ràng là có kinh Lạy Cha, đọc trong Đức Giê-su, hợp với Người. Ta thấy, ngay trong một Thánh Lễ Misa, đã có sự tiến triển hữu cơ về Thiên Chúa, từ thấp đến cao. (Nên chú ý, cứ theo bản dịch hiện nay, thì trong Kinh Nguyện Tạ Ơn mẫu Hai, nguyên Kinh Tiền Tụng đã có 8 chữ Cha, sau đấy 13 chữ Cha trong thân Kinh. Trong Kinh Nguyện Tạ Ơn mẫu Ba thì  có 31 chữ Cha. Trong Kinh Nguyện Tạ Ơn mẫu Bốn, thì nguyên trong Kinh Tiền Tụng đã có 9 chữ Cha. Trong thân Kinh thì có 32 chữ Cha, tất nhiên là theo Bản dịch, các đại từ danh xưng cũng dùng chữ Cha, thật rất tiếc là không dùng rõ ràng là Abba, nhưng hiểu ngầm là như thế). Cái đích cuối cùng là dẵn ta đến cùng Chúa Cha Abba. Công giáo khi nói đến Thiên Chúa bao giờ cũng phải hiểu là Thiên Chúa Abba. Đúng ra đừng dùng chữ Cha, mà cứ dùng Abba thì rõ ràng hơn.

Còn tiếp

Chia sẻ

Ý kiến phản hồi